32
“Asappurisabhūmiñca vo, bhikkhave, desessāmi sappurisabhūmiñca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha. bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Bản dịch
4. Samacittavagga
32—Này các Tỷ-kheo, ta sẽ giảng cho các Thầy về địa vị bậc không phải Chân nhân và địa vị bậc Chân nhân. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân? Người không phải Chân nhân, này các Tỷ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.
33Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.
34Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm… ngồi xuống một bên. Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:
—Tôn giả Gotama đã nói gì, đã thuyết gì?
—Này Bà-la-môn, Ta thuyết về hành động và Ta thuyết về không hành động.
—Như thế nào, Tôn giả Gotama thuyết về hành động và thuyết về không hành động?
—Ta thuyết không hành động, này Bà-la-môn, đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Ta thuyết không hành động đối với nhiều loại pháp ác, bất thiện. Ta thuyết hành động, này Bà-la-môn, đối với thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Ta thuyết hành động đối với nhiều loại pháp thiện. Như vậy, này Bà-la-môn, ta thuyết về hành động và thuyết về không hành động.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
35Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Anàthapindika bạch Thế Tôn:
—Có bao nhiêu người, bạch Thế Tôn, đáng được cúng dường ở đời? Và chỗ nào cần phải bố thí cúng dường.
—Có hai hạng người, này gia chủ, đáng được cúng dường ở đời: Hữu học và vô học. Ðối với hai hạng người này đáng được cúng dường ở đời, này gia chủ, ở đây cần phải bố thí cúng dường.
Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
Hữu học và vô học
Cả hai ở trong đời
Ðều đáng được cúng dường
Ðối với người dâng lễ
Họ giữ thân chánh trực
Cả lời nói ý nghĩ
Phước điền người dâng cúng
Ðây thí có quả lớn.
36Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở tại Sàvatthi, Thắng Lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ngôi lâu đài của mẹ Migàra. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo!
—Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau:
—Này chư Hiền, tôi sẽ giảng về người bị nội kiết sử trói buộc và người bị ngoại kiết sử trói buộc. Hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau:
—Này chư Hiền, thế nào là người bị nội kiết sử trói buộc? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một trong các Thiên giới. Sau khi từ chỗ ấy mạng chung, vị ấy làm người lại trở về, trở về ở thế giới này. Vị này, này chư Hiền, được gọi là người bị nội kiết sử trói buộc, người lại trở lại, trở lui trạng thái này.
Thế nào, này chư Hiền, là người bị ngoại kiết sử trói buộc? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy, chứng đạt và an trú tịch tịnh tâm giải thoát. Sau khi thân hoại mạng chung, Vị ấy sanh vào một loại chư Thiên. Sau khi từ chỗ ấy mạng chung, vị ấy không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa. Vị này, này chư Hiền, được gọi là người bị ngoại kiết sử trói buộc, không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy thực hiện sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt các dục vọng. Vị ấy thực hiện sự đoạn diệt khát ái. Vị ấy thực hiện sự đoạn diệt tham. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một trong các Thiên giới. Sau khi từ chỗ ấy mạng chung, vị ấy không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa. Vị này, này chư Hiền, được gọi là người bị ngoại kiết sử trói buộc, không còn trở lui, không còn trở lại trạng thái này nữa.
Rồi một số đông chư Thiên với tâm thăng bằng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, chư Thiên ấy bạch Thế Tôn:
—Tôn giả Sàriputta này, bạch Thế Tôn, tại Ðông viên, ở lâu đài mẹ Migàra, thuyết pháp về người bị nội kiết sử trói buộc và người bị ngoại kiết sử trói buộc. Hội chúng rất hoan hỷ, bạch Thế Tôn. Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến Tôn giả Sàriputta.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn, rồi như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy, biến mất ở Thắng Lâm, hiện ra ở tại Ðông viên, tại lâu đài mẹ Migàra, trước mặt Tôn giả Sàriputta. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Tôn giả Sàriputta đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
—Ở đây, này Sàriputta, có một số đông chư Thiên, với tâm thăng bằng, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, chư Thiên ấy thưa với Ta: “Tôn giả Sàriputta này, bạch Thế Tôn, tại Ðông viên, ở lâu đài mẹ Migàra, thuyết pháp về người bị nội kiết sử trói buộc và người bị ngoại kiết sử trói buộc. Hội chúng rất hoan hỷ, bạch Thế Tôn. Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến Tôn giả Sàriputta”. Này Sàriputta, chư Thiên ấy tuy con số đến 10, 20, 30, 40, 50, 60, nhưng cùng đứng chỉ trong khoảng trống đầu một cây kim, không có chen lấn nhau. Này Sàriputta, Thầy có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn, tại chỗ kia (trên thế giới) đã tu tập, nhờ vậy, chư Thiên ấy, tuy con số đến 10, 20, 30, 40, 50, 60, nhưng cùng đứng chỉ trong khoảng trống đầu một cây kim, không có chen lấn nhau”. Này Sàriputta, Thầy chớ có thấy như vậy. Chính tại đây, này Sàriputta, chư Thiên ấy đã tu tập tâm, nhờ như vậy chư Thiên ấy tuy con số đến … không chen lấn nhau. Do vậy, này Sàriputta, cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ có các căn an tịnh, các ý an tịnh”. Này Sàriputta, cần phải học tập như vậy. Với những ai có các căn an tịnh, này Sàriputta, với những ai có các ý an tịnh, thời thân nghiệp cũng sẽ được an tịnh, khẩu nghiệp được an tịnh, ý nghiệp được an tịnh. “Chúng ta sẽ đem tặng cho các vị đồng Phạm hạnh một quà tặng an tịnh”. Như vậy, này Sàriputta, các Thầy cần phải học tập. Các du sĩ ngoại đạo nào, này Sàriputta, không được nghe pháp môn này, họ sẽ bị thiệt hại.
37—Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna ở tại Vanara, trên bờ sông Kaddamada. Rồi Bà-la-môn Aràmadanda đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Aràmadanda thưa với Tôn giả Mahà Kaccàna:
—Do nhân gì, thưa Tôn giả Kaccàna, do duyên gì các người Sát-đế-lỵ tranh chấp với các người Sát-đế-lỵ, các người Bà-la-môn tranh chấp với các người Bà-la-môn, các người gia chủ tranh chấp với các người gia chủ?
—Do nhân thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các dục tham, này Bà-la-môn, nên các quý tộc tranh chấp với các quý tộc, các người Bà-la-môn tranh chấp với các người Bà La môn, các người gia chủ tranh chấp với các người gia chủ.
—Do nhân gì, thưa Tôn giả Kaccàna, do duyên gì các Sa-môn tranh chấp với các Sa-môn?
—Do nhân thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các kiến tham, này Bà-la-môn, nên các Sa-môn tranh chấp với các Sa-môn.
—Nhưng thưa Tôn giả Kaccàna, có người nào ở đời có thể vượt qua thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các dục tham này, có thể vượt qua thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các kiến tham này?
—Có người ở đời này, này Bà-la-môn, có thể vượt qua thiên chấp, trói buộc, đắm say, xâm chiếm, bị đắm trước bởi các dục tham này, có thể vượt qua thiên chấp, trói buộc, đắm say, xâm chiếm, bị đắm trước bởi các kiến tham này.
Vị ấy là ai, này các Bà-la-môn, có thể vượt qua thiên chấp … kiến tham này?
Ở quốc độ phương Ðông, này Bà-la-môn, có một thành phố tên là Sàvatthi, Tại đấy, Thế Tôn nay đang trú, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị Thế Tôn ấy, này Bà-la-môn, đã vượt qua thiên chấp … kiến tham này.
Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Aràmadanda từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phía hữu quỳ trên đất, chắp tay hướng về phía Thế Tôn, và nói lên ba lần lời cảm hứng như sau:
—Kính lễ Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Kính lễ Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Kính lễ Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Vị Thế Tôn ấy, đã vượt qua thiên chấp … kiến tham này.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Kaccàna! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Kaccàna! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, thưa Tôn giả Kaccàna, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, hay đem đèn vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Kaccàna dùng nhiều pháp môn để giải thích. Thưa Tôn giả Kaccàna, con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng! Mong Tôn giả Kaccàna chấp nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
38Một thời, Tôn giả Mahà Kaccàna trú ở Madhurà, tại rừng Gundhà. Rồi Bà-la-môn Kandaràyana đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên với Tôn giả Mahà Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kandaràyana thưa với Tôn giả Mahà Kaccàna:
—Tôi có nghe như sau, thưa Tôn giả Kaccàna: “Sa-môn Kaccàna không kính lễ, không đứng dậy, không lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt mức cuối tuổi đời”. Thưa Tôn giả Kaccàna, có phải sự tình là như vậy không? Nếu Tôn giả Kaccàna không kính lễ, không đứng dậy, không lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão, các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời, sự tình như vậy, thưa Tôn giả Kaccàna, là không được tốt đẹp.
—Này Bà-la-môn, có Thế Tôn, bậc Tri giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã tuyên bố về địa vị của tuổi trưởng lão và về địa vị của tuổi trẻ. Vị trưởng lão, này Bà-la-môn, 80 tuổi hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời, nếu vị ấy thọ hưởng các dục vọng, sống giữa các dục vọng, bị đốt cháy bởi lửa nhiệt não của dục vọng, bị nhai nghiến bởi các tầm tư dục vọng, cố gắng tìm cầu các dục vọng; người như vậy được gọi là kẻ ngu, không phải là bậc trưởng lão. Dầu cho này Bà-la-môn, một người còn trẻ, một thanh niên trẻ trung với tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi trẻ hiền thiện trong thời sơ khởi của tuổi đời, mà người ấy không hưởng thọ các dục vọng, không sống giữa các dục vọng, không bị đốt cháy bởi lửa nhiệt não của dục vọng, không bị nhai nghiến bởi các tầm tư dục vọng, không có cố gắng tìm cầu các dục vọng; người như vậy được gọi là bậc có trí, bậc trưởng lão.
—Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Kandarãyana từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân các Tỷ-kheo còn trẻ tuổi và nói:
—Trưởng lão là chư Tôn giả, đã đứng trên địa vị trưởng lão. Trẻ tuổi là chúng con, đã đứng trên địa vị trẻ tuổi.
Thật vi diệu, Tôn giả Kaccàna, … Mong Tôn giả Kaccàna chấp nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
39—Khi nào các người ăn trộm cường mạnh, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, các vua chúa yếu đuối, trong khi ấy, thật không an toàn cho các vua chúa để đi qua lại, đi ra, đi quan sát các biên cương. Và trong khi ấy, thật không an toàn cho các Bà-la-môn, các gia chủ để đi qua lại, đi ra, đi giám sát các công việc làm ở ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các ác Tỷ-kheo cường mạnh, trong khi ấy, các thuần tịnh Tỷ-kheo yếu đuối. Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuần tịnh giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỷ-kheo, hoặc đi đến các quốc độ biên địa. Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là bất hạnh cho đa số, là không an lạc cho đa số, là không lợi ích cho đa số, là bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua chúa cường mạnh, trong khi ấy, các trộm cướp yếu đuối, trong khi ấy, thật an toàn cho các vua chúa để đi qua lại, đi ra, đi quan sát các biên cương. Và trong khi ấy, thật an toàn cho các Bà-la-môn, các gia chủ để đi qua lại, đi ra, đi giám sát các công việc làm ở ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các thuần tịnh Tỷ-kheo cường mạnh, trong khi ấy, các ác Tỷ-kheo yếu đuối. Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, các ác Tỷ-kheo giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỷ-kheo, hoặc đi các chỗ khác. Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạnh phúc cho đa số, là an lạc cho đa số, là lợi ích cho đa số, là hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.
40Ta không tán thán hai loại tà hạnh, này các Tỷ-kheo, ở người gia chủ hay ở người xuất gia. Người gia chủ, này các Tỷ-kheo, hay người xuất gia theo tà hạnh, do nhân duyên tà hạnh, không thể đem lại chánh lý, thiện pháp.
Ta tán thán hai loại chánh hạnh, này các Tỷ-kheo, ở người gia chủ hay ở người xuất gia. Người gia chủ, này các Tỷ-kheo, hay người xuất gia theo chánh hạnh, do nhân duyên chánh hạnh, có thể đem lại chánh lý, thiện pháp.
41Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, chặn đứng cả văn và nghĩa, bằng cách nắm giữ sai lạc các kinh điển và những văn tự thích ứng, thì những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chịu trách nhiệm về bất hạnh cho đa số, không an lạc cho đa số, không lợi ích cho đa số, bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Ngoài ra, các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chất chứa nhiều vô phước làm cho diệu pháp biến mất.
Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, tùy thuận cả văn và nghĩa, bằng cách nắm giữ đúng đắn các kinh điển và những văn tự thích ứng, thì những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chịu trách nhiệm về hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài Người. Ngoài ra, các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chất chứa nhiều phước đức, làm cho diệu pháp an trú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Asappurisabhūmiñca vo, bhikkhave, desessāmi sappurisabhūmiñca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha. bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, I will teach you the level of the untrue person and the level of the true person. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
33. Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông về cảnh giới của người không chân chánh và cảnh giới của người chân chánh. Hãy lắng nghe điều đó, hãy khéo tác ý. Ta sẽ nói. 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn', các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Katamā ca, bhikkhave, asappurisabhūmi? Asappuriso, bhikkhave, akataññū hoti akatavedī. Asabbhi hetaṁ, bhikkhave, upaññātaṁ yadidaṁ akataññutā akataveditā. Kevalā esā, bhikkhave, asappurisabhūmi yadidaṁ akataññutā akataveditā. (…) Sappuriso ca kho, bhikkhave, kataññū hoti katavedī. Sabbhi hetaṁ, bhikkhave, upaññātaṁ yadidaṁ kataññutā kataveditā. Kevalā esā, bhikkhave, sappurisabhūmi yadidaṁ kataññutā kataveditā”ti.
“What is the level of the untrue person? The untrue person is ungrateful and thankless, for the wicked only know how to be ungrateful and thankless. It is totally the level of an untrue person to be ungrateful and thankless. The true person is grateful and thankful, for the virtuous only know how to be grateful and thankful. It is totally the level of a true person to be grateful and thankful.”
Này các Tỳ khưu, cảnh giới của người không chân chánh là gì? Này các Tỳ khưu, người không chân chánh là người không biết ơn, không nhớ ơn. Này các Tỳ khưu, điều này được những người không chân chánh tán thán, tức là sự không biết ơn, không nhớ ơn. Này các Tỳ khưu, đây hoàn toàn là cảnh giới của người không chân chánh, tức là sự không biết ơn, không nhớ ơn. Còn này các Tỳ khưu, người chân chánh là người biết ơn, nhớ ơn. Này các Tỳ khưu, điều này được những người chân chánh tán thán, tức là sự biết ơn, nhớ ơn. Này các Tỳ khưu, đây hoàn toàn là cảnh giới của người chân chánh, tức là sự biết ơn, nhớ ơn.
“Dvinnāhaṁ, bhikkhave, na suppatikāraṁ vadāmi. Katamesaṁ dvinnaṁ? Mātu ca pitu ca.
Ekena, bhikkhave, aṁsena mātaraṁ parihareyya, ekena aṁsena pitaraṁ parihareyya vassasatāyuko vassasatajīvī so ca nesaṁ ucchādanaparimaddananhāpanasambāhanena. Te ca tattheva muttakarīsaṁ cajeyyuṁ, na tveva, bhikkhave, mātāpitūnaṁ kataṁ vā hoti paṭikataṁ vā.
Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā pahūtarattaratanāya mātāpitaro issarādhipacce rajje patiṭṭhāpeyya, na tveva, bhikkhave, mātāpitūnaṁ kataṁ vā hoti paṭikataṁ vā. Taṁ kissa hetu? Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro puttānaṁ āpādakā posakā imassa lokassa dassetāro.
Yo ca kho, bhikkhave, mātāpitaro assaddhe saddhāsampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, dussīle sīlasampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, maccharī cāgasampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, duppaññe paññāsampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, ettāvatā kho, bhikkhave, mātāpitūnaṁ katañca hoti paṭikatañcā”ti.
“Mendicants, I say that these two individuals cannot easily be repaid. What two? Mother and father.
You would not have done enough to repay your mother and father even if you were to carry your mother around on one shoulder and your father on the other, and if you lived like this for a hundred years, and if you were to anoint, massage, bathe, and rub them; and even if they were to defecate and urinate right there.
Even if you were to establish your mother and father as supreme monarchs of this great earth, abounding in the seven treasures, you would still not have done enough to repay them. Why is that? Parents are very helpful to their children: they raise them, nurture them, and show them the world.
But you have done enough, more than enough, to repay them if you encourage, settle, and ground unfaithful parents in faith, unethical parents in ethical conduct, stingy parents in generosity, or ignorant parents in wisdom.”
34. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng có hai người không thể dễ dàng đền ơn. Hai người ấy là ai? Mẹ và cha. Này các Tỳ khưu, dù có người vai bên này cõng mẹ, vai bên kia cõng cha, sống một trăm tuổi, thọ mạng một trăm năm; và người ấy hầu hạ cha mẹ bằng cách thoa dầu, xoa bóp, tắm rửa, đấm bóp, và cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện ngay trên vai người ấy, thì này các Tỳ khưu, như vậy vẫn chưa làm đủ hay đền đáp đủ cho cha mẹ. Này các Tỳ khưu, dù có người an trí cha mẹ vào vương quyền, làm chủ tể trên quả đất lớn đầy châu báu này, thì này các Tỳ khưu, như vậy vẫn chưa làm đủ hay đền đáp đủ cho cha mẹ. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, cha mẹ đã làm rất nhiều cho con cái, là người nuôi dưỡng, chăm sóc, giới thiệu thế giới này (cho con). Nhưng này các Tỳ khưu, người nào đối với cha mẹ không có đức tin, đã khuyến khích, hướng dẫn, an lập vào tín thành; đối với cha mẹ theo ác giới, đã khuyến khích, hướng dẫn, an lập vào giới thành; đối với cha mẹ keo kiệt, đã khuyến khích, hướng dẫn, an lập vào thí thành; đối với cha mẹ có ác tuệ, đã khuyến khích, hướng dẫn, an lập vào tuệ thành, thì này các Tỳ khưu, chỉ với chừng ấy, người ấy mới làm đủ và đền đáp đủ cho cha mẹ.
Atha kho aññataro brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “kiṁvādī bhavaṁ gotamo kimakkhāyī”ti?
“Kiriyavādī cāhaṁ, brāhmaṇa, akiriyavādī cā”ti.
“Yathākathaṁ pana bhavaṁ gotamo kiriyavādī ca akiriyavādī cā”ti?
Then a certain brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “What does the worthy Gotama teach? What does he explain?”
“Brahmin, I teach action and inaction.”
“But in what way does the worthy Gotama teach action and inaction?”
35. Rồi một Bà la môn đi đến chỗ Thế Tôn; đến rồi, cùng Thế Tôn nói lên lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu... ngồi một bên, Bà la môn ấy bạch với Thế Tôn điều này: 'Tôn giả Gotama chủ trương thuyết gì, tuyên bố điều gì?' 'Này Bà la môn, Ta là người chủ trương hành động và cũng là người chủ trương không hành động.' 'Do đâu mà Tôn giả Gotama vừa là người chủ trương hành động, vừa là người chủ trương không hành động?'
“Akiriyaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, vadāmi kāyaduccaritassa vacīduccaritassa manoduccaritassa, anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ akiriyaṁ vadāmi. Kiriyañca kho ahaṁ, brāhmaṇa, vadāmi kāyasucaritassa vacīsucaritassa manosucaritassa, anekavihitānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ kiriyaṁ vadāmi. Evaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, kiriyavādī ca akiriyavādī cā”ti.
“I teach inaction regarding bad bodily, verbal, and mental conduct, and the many kinds of unskillful things. I teach action regarding good bodily, verbal, and mental conduct, and the many kinds of skillful things. This is the kind of action and inaction that I teach.”
Này Bà la môn, Ta tuyên bố không hành động đối với thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; Ta tuyên bố không hành động đối với nhiều loại pháp ác, bất thiện. Và này Bà la môn, Ta tuyên bố hành động đối với thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh; Ta tuyên bố hành động đối với nhiều loại pháp thiện. Như vậy, này Bà la môn, Ta vừa là người chủ trương hành động, vừa là người chủ trương không hành động.
“Abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Excellent, worthy Gotama! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Thật vi diệu, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama hãy nhận con làm một người cận sự nam, từ hôm nay cho đến trọn đời đã quy y.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavantaṁ etadavoca: “kati nu kho, bhante, loke dakkhiṇeyyā, kattha ca dānaṁ dātabban”ti?
“Dve kho, gahapati, loke dakkhiṇeyyā—sekho ca asekho ca. Ime kho, gahapati, dve loke dakkhiṇeyyā, ettha ca dānaṁ dātabban”ti.
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “How many in the world are worthy of a religious donation? And where should a gift be given?”
“Householder, there are two in the world who are worthy of a religious donation: the trainee and the adept. These two in the world are worthy of a religious donation, and that’s where you should give a gift.”
36. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến chỗ Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi một bên. Ngồi một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika bạch với Thế Tôn điều này: 'Bạch Thế Tôn, ở đời có bao nhiêu hạng người đáng được cúng dường, và nên bố thí ở đâu?' 'Này gia chủ, ở đời có hai hạng người đáng được cúng dường: bậc Hữu học và bậc Vô học. Này gia chủ, đây là hai hạng người đáng được cúng dường ở đời, và nên bố thí cho họ.'
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Sekho asekho ca imasmiṁ loke, Āhuneyyā yajamānānaṁ honti; Te ujjubhūtā kāyena, Vācāya uda cetasā; Khettaṁ taṁ yajamānānaṁ, Ettha dinnaṁ mahapphalan”ti.
Evaṁ me sutaṁ—
“In this world, the trainee and the adept, are worthy of offerings dedicated to the gods. They are sincere in body, speech, and mind. This is the field for sponsors of sacrifice—what’s given here is very fruitful.”
So I have heard.
Bậc Hữu học và Vô học ở trong đời này, là những người đáng được cúng dường của các thí chủ; các vị ấy là những người ngay thẳng về thân, khẩu, và cả ý; các vị ấy là ruộng phước của các thí chủ, sự bố thí cho các vị ấy có quả lớn.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde. Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“ajjhattasaṁyojanañca, āvuso, puggalaṁ desessāmi bahiddhāsaṁyojanañca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
Now at that time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery. There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
“I will teach you about an individual fettered internally and one fettered externally. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Sāriputta said this:
37. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta cũng đang trú ở Sāvatthī, tại giảng đường Migāramātu ở tu viện Pubbārāma. Tại đấy, Tôn giả Sāriputta gọi các vị tỳ khưu: 'Này chư hiền tỳ khưu.' – 'Thưa hiền giả.' Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói điều này: 'Này chư hiền, tôi sẽ thuyết giảng về hạng người có nội kiết sử và hạng người có ngoại kiết sử. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; tôi sẽ nói.' – 'Vâng, thưa hiền giả.' Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Katamo cāvuso, ajjhattasaṁyojano puggalo? Idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati. So tato cuto āgāmī hoti, āgantā itthattaṁ. Ayaṁ vuccati, āvuso, ajjhattasaṁyojano puggalo āgāmī hoti, āgantā itthattaṁ.
“Who is an individual fettered internally? It’s a mendicant who is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. When their body breaks up, after death, they’re reborn in one of the orders of gods. When they pass away from there, they’re a returner, who comes back to this place. This is called an individual who is fettered internally, a returner, who comes back to this place.
'Này chư hiền, thế nào là hạng người có nội kiết sử? Ở đây, này chư hiền, vị tỳ khưu có giới hạnh, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một cõi trời nào đó. Vị ấy, sau khi mệnh chung từ cõi đó, là người trở lại, sẽ trở lại thế giới này. Này chư hiền, đây được gọi là hạng người có nội kiết sử, là người trở lại, sẽ trở lại thế giới này.
Katamo cāvuso, bahiddhāsaṁyojano puggalo? Idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati. So tato cuto anāgāmī hoti, anāgantā itthattaṁ. Ayaṁ vuccatāvuso, bahiddhāsaṁyojano puggalo anāgāmī hoti, anāgantā itthattaṁ.
Who is an individual fettered externally? It’s a mendicant who is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. They enter and remain in a certain peaceful state of freed mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in one of the orders of gods. When they pass away from there, they’re a non-returner, not coming back to this place. This is called an individual who is fettered externally, a non-returner, who does not come back to this place.
'Này chư hiền, thế nào là hạng người có ngoại kiết sử? Ở đây, này chư hiền, vị tỳ khưu có giới hạnh, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Vị ấy sống, sau khi đã chứng đạt và an trú trong một tâm giải thoát tịch tịnh nào đó. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một cõi trời nào đó. Vị ấy, sau khi mệnh chung từ cõi đó, là người không trở lại, sẽ không trở lại thế giới này. Này chư hiền, đây được gọi là hạng người có ngoại kiết sử, là người không trở lại, sẽ không trở lại thế giới này.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So kāmānaṁyeva nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti. So bhavānaṁyeva nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti. So taṇhākkhayāya paṭipanno hoti. So lobhakkhayāya paṭipanno hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjati. So tato cuto anāgāmī hoti, anāgantā itthattaṁ. Ayaṁ vuccatāvuso, bahiddhāsaṁyojano puggalo anāgāmī hoti, anāgantā itthattan”ti.
Furthermore, a mendicant is ethical … they keep the rules they’ve undertaken. They simply practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding sensual pleasures. They simply practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding future lives. They practice for the ending of craving. They practice for the ending of greed. When their body breaks up, after death, they are reborn in one of the orders of gods. When they pass away from there, they are non-returners, not coming back to this place. This is called an individual who is fettered externally, a non-returner, who does not come back to this place.”
'Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có giới hạnh... (như trên)... chấp nhận và thực hành các học giới. Vị ấy là người thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt chính các dục. Vị ấy là người thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt chính các hữu. Vị ấy là người thực hành để đoạn tận ái. Vị ấy là người thực hành để đoạn tận tham. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào một cõi trời nào đó. Vị ấy, sau khi mệnh chung từ cõi đó, là người không trở lại, sẽ không trở lại thế giới này. Này chư hiền, đây được gọi là hạng người có ngoại kiết sử, là người không trở lại, sẽ không trở lại thế giới này.'
Atha kho sambahulā samacittā devatā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā devatā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “eso, bhante, āyasmā sāriputto pubbārāme migāramātupāsāde bhikkhūnaṁ ajjhattasaṁyojanañca puggalaṁ deseti bahiddhāsaṁyojanañca. Haṭṭhā, bhante, parisā. Sādhu, bhante, bhagavā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—jetavane antarahito pubbārāme migāramātupāsāde āyasmato sāriputtassa sammukhe pāturahosi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Āyasmāpi kho sāriputto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
Then several peaceful-minded deities went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to the Buddha, “Sir, Venerable Sāriputta is in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, where he is teaching the mendicants about an individual with internal fetters and one with external fetters. The assembly is overjoyed! Sir, please go to Venerable Sāriputta out of sympathy.” The Buddha consented with silence.
Then the Buddha, as easily as a strong person would extend or contract their arm, vanished from Jeta’s Grove and reappeared in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, in front of Sāriputta. He sat down on the seat spread out. Sāriputta bowed to the Buddha and sat down to one side. The Buddha said to him:
Lúc bấy giờ, nhiều vị chư thiên có tâm tương đồng đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, các vị chư thiên ấy bạch với Thế Tôn điều này: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đang ở tại giảng đường Migāramātu ở tu viện Pubbārāma thuyết giảng cho các vị tỳ khưu về hạng người có nội kiết sử và hạng người có ngoại kiết sử. Bạch Thế Tôn, hội chúng rất hoan hỷ. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta.' Thế Tôn đã im lặng chấp thuận. Rồi Thế Tôn, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi Jetavana và hiện ra trước mặt Tôn giả Sāriputta tại giảng đường Migāramātu ở tu viện Pubbārāma. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã được soạn sẵn. Tôn giả Sāriputta cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói điều này với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên:
“Idha, sāriputta, sambahulā samacittā devatā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, sāriputta, tā devatā maṁ etadavocuṁ: ‘eso, bhante, āyasmā sāriputto pubbārāme migāramātupāsāde bhikkhūnaṁ ajjhattasaṁyojanañca puggalaṁ deseti bahiddhāsaṁyojanañca. Haṭṭhā, bhante, parisā. Sādhu, bhante, bhagavā yena āyasmā sāriputto tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’ti.
Tā kho pana, sāriputta, devatā dasapi hutvā vīsampi hutvā tiṁsampi hutvā cattālīsampi hutvā paññāsampi hutvā saṭṭhipi hutvā āraggakoṭinitudanamattepi tiṭṭhanti, na ca aññamaññaṁ byābādhenti.
Siyā kho pana, sāriputta, evamassa: ‘tattha nūna tāsaṁ devatānaṁ tathā cittaṁ bhāvitaṁ yena tā devatā dasapi hutvā vīsampi hutvā tiṁsampi hutvā cattālīsampi hutvā paññāsampi hutvā saṭṭhipi hutvā āraggakoṭinitudanamattepi tiṭṭhanti na ca aññamaññaṁ byābādhentī’ti. Na kho panetaṁ, sāriputta, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Idheva kho, sāriputta, tāsaṁ devatānaṁ tathā cittaṁ bhāvitaṁ, yena tā devatā dasapi hutvā …pe… na ca aññamaññaṁ byābādhenti.
Tasmātiha, sāriputta, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘santindriyā bhavissāma santamānasā’ti. Evañhi vo, sāriputta, sikkhitabbaṁ. ‘Santindriyānañhi vo, sāriputta, santamānasānaṁ santaṁyeva kāyakammaṁ bhavissati santaṁ vacīkammaṁ santaṁ manokammaṁ. Santaṁyeva upahāraṁ upaharissāma sabrahmacārīsū’ti. ‘Evañhi vo, sāriputta, sikkhitabbaṁ.
Anassuṁ kho, sāriputta, aññatitthiyā paribbājakā ye imaṁ dhammapariyāyaṁ nāssosun’”ti.
Evaṁ me sutaṁ—
“Just now, Sāriputta, several peaceful-minded deities came up to me, bowed, and stood to one side. Those deities said to me: ‘Sir, Venerable Sāriputta is in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, where he is teaching the mendicants about an individual with internal fetters and one with external fetters. The assembly is overjoyed! Sir, please go to Venerable Sāriputta out of sympathy.’
Those deities, though they number ten, twenty, thirty, forty, fifty, or sixty, can stand on the point of a needle without bumping up against each other.
Sāriputta, you might think: ‘Surely those deities, since so many of them can stand on the point of a needle without bumping up against each other, must have developed their minds in that place.’ But you should not see it like this. It was right here that those deities developed their minds.
So you should train like this: ‘We shall have peaceful faculties and peaceful minds.’ That’s how you should train. When your faculties and mind are peaceful, your acts of body, speech, and mind will be peaceful, thinking: ‘We shall present the gift of peace to our spiritual companions.’ That’s how you should train.
Those wanderers of other religions, Sāriputta, who have not heard this exposition of the teaching are lost.”
So I have heard.
“Này Sāriputta, ở đây, rất nhiều chư thiên có cùng tâm tư đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, họ đã đảnh lễ ta rồi đứng sang một bên. Này Sāriputta, sau khi đứng sang một bên, các vị chư thiên ấy đã nói với ta điều này: ‘Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta kia đang thuyết giảng cho các vị tỳ khưu về hạng người có nội kiết sử và ngoại kiết sử tại giảng đường của bà Migāramātā trong tu viện Pubbārāma. Bạch Thế Tôn, hội chúng rất hoan hỷ. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta.’ Này Sāriputta, các vị chư thiên ấy, dù là mười vị, hai mươi vị, ba mươi vị, bốn mươi vị, năm mươi vị, hay sáu mươi vị, họ vẫn có thể đứng trong một không gian chỉ bằng đầu mũi kim mà không chèn ép lẫn nhau. Này Sāriputta, có thể có suy nghĩ như vầy: ‘Chắc hẳn tâm của các vị chư thiên ấy đã được tu tập như thế tại nơi đó, nhờ vậy mà các vị chư thiên ấy, dù là mười vị, hai mươi vị, ba mươi vị, bốn mươi vị, năm mươi vị, hay sáu mươi vị, họ vẫn có thể đứng trong một không gian chỉ bằng đầu mũi kim mà không chèn ép lẫn nhau.’ Nhưng này Sāriputta, không nên hiểu như vậy. Này Sāriputta, chính ngay tại đây mà tâm của các vị chư thiên ấy đã được tu tập như thế, nhờ vậy mà các vị chư thiên ấy, dù là mười vị... cho đến... họ không chèn ép lẫn nhau. Do đó, này Sāriputta, ở đây các ngươi phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ có các căn an tịnh, có tâm ý an tịnh.’ Này Sāriputta, các ngươi phải học tập như vậy. ‘Này Sāriputta, đối với các ngươi là những người có các căn an tịnh, có tâm ý an tịnh, thân nghiệp sẽ được an tịnh, khẩu nghiệp sẽ được an tịnh, ý nghiệp sẽ được an tịnh. Chúng ta sẽ dâng lên các bạn đồng phạm hạnh sự cúng dường an tịnh.’ Này Sāriputta, các ngươi phải học tập như vậy. Này Sāriputta, các du sĩ ngoại đạo nào không được nghe pháp môn này thì thật là một sự tổn thất cho họ.”
Atha kho ārāmadaṇḍo brāhmaṇo yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho ārāmadaṇḍo brāhmaṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bho kaccāna, hetu ko paccayo yena khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatikāpi gahapatikehi vivadantī”ti?
“Kāmarāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānahetu kho, brāhmaṇa, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatikāpi gahapatikehi vivadantī”ti.
Then the brahmin Ārāmadaṇḍa went up to Mahākaccāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Mahākaccāna:
“What is the cause, worthy Kaccāna, what is the reason why aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, and householders fight with householders?”
“It is because of their insistence on sensual desire, their shackles, avarice, and attachment, that aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, and householders fight with householders.”
38. Tôi nghe như vầy: Một thời, Tôn giả Mahākaccāna trú ở Varaṇā, bên bờ sông Bhaddasāri. Bấy giờ, Bà-la-môn Ārāmadaṇḍa đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; sau khi đến, ông đã cùng Tôn giả Mahākaccāna nói lên những lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng và thăm hỏi thân hữu, ông ngồi sang một bên. Sau khi ngồi sang một bên, Bà-la-môn Ārāmadaṇḍa đã nói với Tôn giả Mahākaccāna điều này: “Thưa Tôn giả Kaccāna, do nhân gì, do duyên gì mà các vị Sát-đế-lỵ tranh cãi với các vị Sát-đế-lỵ, các vị Bà-la-môn tranh cãi với các vị Bà-la-môn, các vị gia chủ tranh cãi với các vị gia chủ?” “Này Bà-la-môn, chính do nhân là sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong dục tham mà các vị Sát-đế-lỵ tranh cãi với các vị Sát-đế-lỵ, các vị Bà-la-môn tranh cãi với các vị Bà-la-môn, các vị gia chủ tranh cãi với các vị gia chủ.”
“Ko pana, bho kaccāna, hetu ko paccayo yena samaṇāpi samaṇehi vivadantī”ti?
“Diṭṭhirāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānahetu kho, brāhmaṇa, samaṇāpi samaṇehi vivadantī”ti.
“What is the cause, worthy Kaccāna, what is the reason why ascetics fight with ascetics?”
“It is because of their insistence on views, their shackles, avarice, and attachment, that ascetics fight with ascetics.”
“Thưa Tôn giả Kaccāna, vậy do nhân gì, do duyên gì mà các vị Sa-môn tranh cãi với các vị Sa-môn?” “Này Bà-la-môn, chính do nhân là sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong kiến tham mà các vị Sa-môn tranh cãi với các vị Sa-môn.”
“Atthi pana, bho kaccāna, koci lokasmiṁ yo imañceva kāmarāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto, imañca diṭṭhirāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto”ti?
“Atthi, brāhmaṇa, lokasmiṁ yo imañceva kāmarāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto, imañca diṭṭhirāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto”ti.
“Worthy Kaccāna, is there anyone in the world who has gone beyond the insistence on sensual desire and the insistence on views?”
“There is, brahmin.”
“Thưa Tôn giả Kaccāna, vậy ở trên đời có ai đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong dục tham này, và đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong kiến tham này không?” “Này Bà-la-môn, ở trên đời có người đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong dục tham này, và đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong kiến tham này.”
“Ko pana so, bho kaccāna, lokasmiṁ yo imañceva kāmarāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto, imañca diṭṭhirāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto”ti?
“Atthi, brāhmaṇa, puratthimesu janapadesu sāvatthī nāma nagaraṁ. Tattha so bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho. So hi, brāhmaṇa, bhagavā imañceva kāmarāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto, imañca diṭṭhirāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto”ti.
“Who in the world has gone beyond the insistence on sensual desire and the insistence on views?”
“In the eastern lands there is a city named Sāvatthī. There the Blessed One is now staying, the perfected one, the fully awakened Buddha. He, brahmin, has gone beyond the insistence on sensual desire and the insistence on views.”
“Thưa Tôn giả Kaccāna, vậy ở trên đời, vị ấy là ai, người đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong dục tham này, và đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong kiến tham này?” “Này Bà-la-môn, ở các xứ phương đông có một thành phố tên là Sāvatthī. Hiện nay, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đó. Này Bà-la-môn, chính Thế Tôn ấy đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong dục tham này, và đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong kiến tham này.”
Evaṁ vutte, ārāmadaṇḍo brāhmaṇo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇaṁ jāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
When this was said, the brahmin Ārāmadaṇḍa rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, knelt on his right knee, raised his cupped palms toward the Buddha, and expressed this heartfelt sentiment three times:
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Ārāmadaṇḍa từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng ba lần:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Yo hi so bhagavā imañceva kāmarāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto, imañca diṭṭhirāgābhinivesavinibandhapaligedhapariyuṭṭhānajjhosānaṁ samatikkanto”ti.
“Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
He who has gone beyond the insistence on sensual desire and the insistence on views.
“Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Vị Thế Tôn ấy quả thật đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong dục tham này, và đã vượt qua được sự cố chấp, trói buộc, tham luyến, ám ảnh, và đắm chìm trong kiến tham này.”
“Abhikkantaṁ, bho kaccāna, abhikkantaṁ, bho kaccāna. Seyyathāpi, bho kaccāna, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya; andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā kaccānena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bho kaccāna, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Excellent, worthy Kaccāna! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Kaccāna has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Kaccāna remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Thật vi diệu, thưa ngài Kaccāna! Thật vi diệu, thưa ngài Kaccāna! Thưa ngài Kaccāna, cũng giống như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để ‘những ai có mắt có thể thấy các sắc’. Cũng vậy, Chánh pháp đã được ngài Kaccāna dùng nhiều phương tiện để trình bày. Thưa ngài Kaccāna, con xin quy y đức Gotama ấy, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-khưu. Mong ngài Kaccāna hãy xem con là một nam cư sĩ đã quy y Tam bảo kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno madhurāyaṁ viharati gundāvane.
Atha kho kandarāyano brāhmaṇo yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho kandarāyano brāhmaṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho kaccāna, ‘na samaṇo kaccāno brāhmaṇe jiṇṇe vuddhe mahallake addhagate vayoanuppatte abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimantetī’ti. Tayidaṁ, bho kaccāna, tatheva? Na hi bhavaṁ kaccāno brāhmaṇe jiṇṇe vuddhe mahallake addhagate vayoanuppatte abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimanteti. Tayidaṁ, bho kaccāna, na sampannamevā”ti.
At one time Venerable Mahākaccāna was staying near Madhurā in the Nut Grass Grove.
Then the brahmin Kandarāyana went up to Mahākaccāna, and exchanged greetings with him … He sat down to one side and said to Mahākaccāna:
“I have heard, worthy Kaccāna, that the ascetic Kaccāna doesn’t bow to old brahmins, the elderly and senior, who are advanced in years and have reached the final stage of life; nor does he rise in their presence or offer them a seat. And this is indeed the case, for the ascetic Kaccāna does not bow to old brahmins, elderly and senior, who are advanced in years and have reached the final stage of life; nor does he rise in their presence or offer them a seat. This is not appropriate, worthy Kaccāna.”
39. Một thời, Tôn giả Mahākaccāna trú ở Madhurā, tại Gundāvana. Bấy giờ, Bà-la-môn Kandarāyana đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; sau khi đến, … ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kandarāyana nói với Tôn giả Mahākaccāna điều này: “Thưa ngài Kaccāna, tôi có nghe điều này: ‘Sa-môn Kaccāna không đảnh lễ, không đứng dậy chào đón, cũng không mời ngồi các vị Bà-la-môn già cả, trưởng lão, cao niên, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều.’ Thưa ngài Kaccāna, có đúng như vậy không? Quả thật, ngài Kaccāna không đảnh lễ, không đứng dậy chào đón, cũng không mời ngồi các vị Bà-la-môn già cả, trưởng lão, cao niên, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Thưa ngài Kaccāna, việc ấy quả là không thích hợp.”
“Atthi, brāhmaṇa, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena vuddhabhūmi ca akkhātā daharabhūmi ca. Vuddho cepi, brāhmaṇa, hoti āsītiko vā nāvutiko vā vassasatiko vā jātiyā, so ca kāme paribhuñjati kāmamajjhāvasati kāmapariḷāhena pariḍayhati kāmavitakkehi khajjati kāmapariyesanāya ussuko. Atha kho so bālo na therotveva saṅkhyaṁ gacchati. Daharo cepi, brāhmaṇa, hoti yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā. So ca na kāme paribhuñjati na kāmamajjhāvasati, na kāmapariḷāhena pariḍayhati, na kāmavitakkehi khajjati, na kāmapariyesanāya ussuko. Atha kho so paṇḍito therotveva saṅkhyaṁ gacchatī”ti.
“There is the stage of an elder and the stage of youth as explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. If an elder, though eighty, ninety, or a hundred years old, still dwells in the midst of sensual pleasures, enjoying them, consumed by thoughts of them, burning with fever for them, and eagerly seeking more, they are reckoned as a child, not a senior. If a youth, young, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life, does not dwell in the midst of sensual pleasures, enjoying them, consumed by thoughts of them, burning with fever for them, and eagerly seeking more, they are reckoned as astute, a senior.”
“Này Bà-la-môn, có cảnh giới của bậc trưởng lão và cảnh giới của người trẻ tuổi đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Này Bà-la-môn, cho dù một người có là bậc trưởng lão, tám mươi, chín mươi, hay một trăm tuổi đời, nhưng nếu người ấy hưởng thụ các dục, sống giữa các dục, bị thiêu đốt bởi nhiệt não của dục, bị các tầm về dục gặm nhấm, và nhiệt tâm trong việc tìm cầu các dục, thì người ấy được xem là kẻ ngu si, chứ không phải là bậc trưởng lão. Này Bà-la-môn, cho dù một người còn trẻ, là thanh niên, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong giai đoạn đầu của cuộc đời, nhưng nếu người ấy không hưởng thụ các dục, không sống giữa các dục, không bị thiêu đốt bởi nhiệt não của dục, không bị các tầm về dục gặm nhấm, và không nhiệt tâm trong việc tìm cầu các dục, thì người ấy được xem là bậc hiền trí, là bậc trưởng lão.”
Evaṁ vutte, kandarāyano brāhmaṇo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā daharānaṁ sataṁ bhikkhūnaṁ pāde sirasā vandati: “vuddhā bhavanto, vuddhabhūmiyaṁ ṭhitā. Daharā mayaṁ, daharabhūmiyaṁ ṭhitā”ti.
When this was said, the brahmin Kandarāyana got up from his seat, placed his robe over one shoulder, and bowed with his head to the feet of the young mendicants, saying, “The good fellows are elders, at the stage of the elder; we are youths, at the stage of youth.
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Kandarāyana từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân các vị Tỳ-khưu trẻ tuổi và nói: “Các ngài là những bậc trưởng lão, đã an trú trong cảnh giới của bậc trưởng lão. Còn chúng tôi là những người trẻ tuổi, đang an trú trong cảnh giới của người trẻ tuổi.”
“Abhikkantaṁ, bho kaccāna …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Excellent, worthy Kaccāna! … From this day forth, may the worthy Kaccāna remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Thật vi diệu, thưa ngài Kaccāna… (như trên)… Mong ngài Kaccāna hãy xem con là một nam cư sĩ đã quy y Tam bảo kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
“Yasmiṁ, bhikkhave, samaye corā balavanto honti, rājāno tasmiṁ samaye dubbalā honti. Tasmiṁ, bhikkhave, samaye rañño na phāsu hoti atiyātuṁ vā niyyātuṁ vā paccantime vā janapade anusaññātuṁ. Brāhmaṇagahapatikānampi tasmiṁ samaye na phāsu hoti atiyātuṁ vā niyyātuṁ vā bāhirāni vā kammantāni paṭivekkhituṁ. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye pāpabhikkhū balavanto honti, pesalā bhikkhū tasmiṁ samaye dubbalā honti. Tasmiṁ, bhikkhave, samaye pesalā bhikkhū tuṇhībhūtā tuṇhībhūtāva saṅghamajjhe saṅkasāyanti paccantime vā janapade acchanti. Tayidaṁ, bhikkhave, hoti bahujanāhitāya bahujanāsukhāya, bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ.
“At a time when bandits are strong, kings are weak. Then the king is not at ease when going out or coming back or when touring the provinces. The brahmins and householders, likewise, are not at ease when going out or coming back, or when inspecting their external business activities. In the same way, at a time when bad mendicants are strong, good-hearted mendicants are weak. Then the good-hearted mendicants continually adhere to silence in the midst of the Saṅgha, or they stay in the borderlands. This is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.
40. “Này các Tỳ-khưu, vào thời nào mà kẻ cướp có thế lực, thì vào thời ấy các vị vua trở nên yếu thế. Này các Tỳ-khưu, vào thời ấy, nhà vua không dễ dàng đi vào, đi ra, hay đi tuần tra các vùng biên địa. Vào thời ấy, các Bà-la-môn và gia chủ cũng không dễ dàng đi vào, đi ra, hay trông coi công việc bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, vào thời nào mà các Tỳ-khưu ác hạnh có thế lực, thì vào thời ấy các Tỳ-khưu hiền thiện trở nên yếu thế. Này các Tỳ-khưu, vào thời ấy, các Tỳ-khưu hiền thiện phải ngồi im lặng, im lặng giữa chúng Tăng, hoặc phải sống ở các vùng biên địa. Này các Tỳ-khưu, điều ấy xảy ra vì bất hạnh cho đa số, vì bất an cho đa số, vì tổn hại, bất hạnh, và đau khổ cho đa số, cho chư thiên và loài người.”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye rājāno balavanto honti, corā tasmiṁ samaye dubbalā honti. Tasmiṁ, bhikkhave, samaye rañño phāsu hoti atiyātuṁ vā niyyātuṁ vā paccantime vā janapade anusaññātuṁ. Brāhmaṇagahapatikānampi tasmiṁ samaye phāsu hoti atiyātuṁ vā niyyātuṁ vā bāhirāni vā kammantāni paṭivekkhituṁ. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye pesalā bhikkhū balavanto honti, pāpabhikkhū tasmiṁ samaye dubbalā honti. Tasmiṁ, bhikkhave, samaye pāpabhikkhū tuṇhībhūtā tuṇhībhūtāva saṅghamajjhe saṅkasāyanti, yena vā pana tena pakkamanti. Tayidaṁ, bhikkhave, hoti bahujanahitāya bahujanasukhāya, bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
At a time when kings are strong, bandits are weak. Then the king is at ease when going out or coming back or when inspecting the provinces. The brahmins and householders, likewise, are at ease when going out or coming back, or when inspecting their external business activities. In the same way, at a time when good-hearted mendicants are strong, bad mendicants are weak. Then the bad mendicants continually adhere to silence in the midst of the Saṅgha, or they leave for some place or other. This is for the welfare and happiness of the people, for the people, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.”
“Này các Tỳ-khưu, vào thời nào mà các vị vua có thế lực, thì vào thời ấy kẻ cướp trở nên yếu thế. Này các Tỳ-khưu, vào thời ấy, nhà vua dễ dàng đi vào, đi ra, hay đi tuần tra các vùng biên địa. Vào thời ấy, các Bà-la-môn và gia chủ cũng dễ dàng đi vào, đi ra, hay trông coi công việc bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, vào thời nào mà các Tỳ-khưu hiền thiện có thế lực, thì vào thời ấy các Tỳ-khưu ác hạnh trở nên yếu thế. Này các Tỳ-khưu, vào thời ấy, các Tỳ-khưu ác hạnh phải ngồi im lặng, im lặng giữa chúng Tăng, hoặc phải bỏ đi nơi này nơi khác. Này các Tỳ-khưu, điều ấy xảy ra vì hạnh phúc cho đa số, vì an lạc cho đa số, vì lợi ích, hạnh phúc, và an lạc cho đa số, cho chư thiên và loài người.”
“Dvinnāhaṁ, bhikkhave, micchāpaṭipattiṁ na vaṇṇemi, gihissa vā pabbajitassa vā. Gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā micchāpaṭipanno micchāpaṭipattādhikaraṇahetu na ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
“Mendicants, I don’t praise wrong practice for these two, for laypeople and renunciates. Because of wrong practice, neither laypeople nor renunciates succeed in completing the system of the skillful teaching.
41. “Này các Tỳ-khưu, Ta không tán thán tà hạnh của hai hạng người: người tại gia hay người xuất gia. Này các Tỳ-khưu, người tại gia hay người xuất gia, nếu có tà hạnh, thì do nhân tà hạnh ấy, người ấy không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Dvinnāhaṁ, bhikkhave, sammāpaṭipattiṁ vaṇṇemi, gihissa vā pabbajitassa vā. Gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
I praise right practice for these two, for laypeople and renunciates. Because of right practice, both laypeople and renunciates succeed in completing the system of the skillful teaching.”
“Này các Tỳ-khưu, Ta tán thán chánh hạnh của hai hạng người: người tại gia hay người xuất gia. Này các Tỳ-khưu, người tại gia hay người xuất gia, nếu có chánh hạnh, thì do nhân chánh hạnh ấy, người ấy có thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
“Ye te, bhikkhave, bhikkhū duggahitehi suttantehi byañjanappatirūpakehi atthañca dhammañca paṭibāhanti te, bhikkhave, bhikkhū bahujanāhitāya paṭipannā bahujanāsukhāya, bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Bahuñca te, bhikkhave, bhikkhū apuññaṁ pasavanti, te cimaṁ saddhammaṁ antaradhāpenti.
“Mendicants, by memorizing the discourses incorrectly, taking only a semblance of the phrasing, some mendicants shut out the meaning and the teaching. They act for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. They brim with much wickedness and make the true teaching disappear.
42. Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào dùng những kinh điển đã được học tập sai lạc, với những văn tự sai lạc, để xuyên tạc ý nghĩa và pháp, này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy đã thực hành vì bất hạnh cho đa số, vì bất an cho đa số, vì sự không lợi ích, bất hạnh, đau khổ cho chư thiên và loài người. Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy tạo ra nhiều điều phi công đức, và họ làm cho diệu pháp này biến mất.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū suggahitehi suttantehi byañjanappatirūpakehi atthañca dhammañca anulomenti te, bhikkhave, bhikkhū bahujanahitāya paṭipannā bahujanasukhāya, bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Bahuñca te, bhikkhave, bhikkhū puññaṁ pasavanti, te cimaṁ saddhammaṁ ṭhapentī”ti.
But by memorizing the discourses well, not taking only a semblance of the phrasing, some mendicants conform to the meaning and the teaching. They act for the welfare and happiness of the people, for the people, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. They brim with much merit and make the true teaching continue.”
Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào dùng những kinh điển đã được học tập đúng đắn, với những văn tự đúng đắn, để làm cho phù hợp với ý nghĩa và pháp, này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy đã thực hành vì hạnh phúc cho đa số, vì an lạc cho đa số, vì sự lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người. Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy tạo ra nhiều công đức, và họ làm cho diệu pháp này được vững bền.
Samacittavaggo catuttho.
Phẩm Samacitta, phẩm thứ tư.