- Aṅguttara Nikāya 2
Bản dịch
AN 2.230-279 — 17. Akusalapeyyāla
17. Akusalapeyyāla
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp
(Như trên với các pháp sau đây:)
TTC 2Giả dối vào não hại
TTC 3Tật đố và xan lẫn
TTC 4Man trá và phản trắc
TTC 5Không tàm và không quý
TTC 6Không phẫn nộ và không hiềm hận
TTC 7Không giả dối và không não hại
TTC 8Không tật đố và không xan tham
TTC 9Không man trá và không phản trắc
TTC 10Tàm và quý
TTC 11Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong đau khổ. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận.
TTC 12Giả dối vào não hại
TTC 13Tật đố và xan tham
TTC 14Man trá và phản trắc
TTC 15Không tàm và không quý
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong đau khổ.
TTC 16Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, sống trong an lạc. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận.
TTC 17Không giả dối và không não hại
TTC 18Không tật đố và không xan lẫn
TTC 19Không man trá và không phản trắc
TTC 20Tàm và quý
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, phải sống trong an lạc.
TTC 21Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận.
TTC 22Giả dối và não hại
TTC 23Tật đố và xan lẫn
TTC 24Man trá và phản trắc
TTC 25Không tàm và không quý
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học.
TTC 26Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến sự đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận.
TTC 27Không giả dối và không não hại
TTC 28Không tật đố và không xan lẫn
TTC 29Không man trá và không phản trắc
TTC 30Tàm và quý
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học.
TTC 31-35Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy bị quăng vào địa ngục tương xứng. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận … Không tàm và không quý.
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy bị quăng vào địa ngục tương xứng.
TTC 36-40Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy được sanh lên chư Thiên tương xứng. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận … Tàm và quý.
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy được sanh lên chư Thiên tương xứng.
TTC 41-45Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận … Không tàm và không quý.
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
TTC 46-50Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận … Tàm và quý.
Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này.
TTC 51-55Thành tựu hai bất thiện pháp này …
TTC 56-60Thành tựu hai thiện pháp này …
TTC 61-65Thành tựu hai pháp có tội này …
TTC 66-70Thành tựu hai pháp không có tội này …
TTC 71-75Thành tựu hai pháp tăng khổ này …
TTC 76-80Thành tựu hai pháp tăng lạc này …
TTC 81-85Thành tựu hai pháp với quả dị thục là khổ này …
TTC 86-90Thành tựu hai pháp với quả dị thục là lạc này …
TTC 91-95Thành tựu hai pháp não hại này …
TTC 96-100Thành tựu với hai pháp không não hại này …
(mỗi lần là năm … (như trên) … t thiện pháp và thiện pháp) …
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 2.230–279
The Chapter of Abbreviated Texts Beginning With the Unskillful
2. Phần Tóm Lược Về Bất Thiện
“Dveme, bhikkhave, dhammā akusalā … dveme, bhikkhave, dhammā kusalā … dveme, bhikkhave, dhammā sāvajjā … dveme, bhikkhave, dhammā anavajjā … dveme, bhikkhave, dhammā dukkhudrayā … dveme, bhikkhave, dhammā sukhudrayā … dveme, bhikkhave, dhammā dukkhavipākā … dveme, bhikkhave, dhammā sukhavipākā … dveme, bhikkhave, dhammā sabyābajjhā … dveme, bhikkhave, dhammā abyābajjhā. Katame dve? Akkodho ca anupanāho ca … amakkho ca apaḷāso ca … anissā ca amacchariyañca … amāyā ca asāṭheyyañca … hirī ca ottappañca. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā abyābajjhā”ti.
“These two things are unskillful … are skillful … are blameworthy … are blameless … have suffering as outcome … have happiness as outcome … result in suffering … result in happiness … are hurtful … are not hurtful. What two? Freedom from anger and acrimony … freedom from disdain and contempt … freedom from jealousy and stinginess … freedom from deceit and deviousness … conscience and prudence. These are the two things that are not hurtful.”
191-200. Này các Tỳ khưu, có hai pháp bất thiện này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp thiện này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp có tội lỗi này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp không có tội lỗi này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp sanh khởi khổ đau này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp sanh khởi an lạc này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp có quả dị thục là khổ này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp có quả dị thục là lạc này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp có phiền não này... Này các Tỳ khưu, có hai pháp không có phiền não này. Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không oán hận... không gièm pha và không cạnh tranh... không ganh tỵ và không bỏn xẻn... không lừa dối và không xảo trá... tàm và quý. Này các Tỳ khưu, đây là hai pháp không có phiền não.
Akusalapeyyālaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần lược giảng về các pháp bất thiện đã kết thúc.