- Aṅguttara Nikāya 11.7
- 1. Nissayavagga
Saññāsutta
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Bản dịch
Saññāsutta
TTC 1Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có thể chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định, như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió, trong Không vô biên xứ không tưởng đến Không vô biên xứ, trong Thức vô biên xứ không tưởng đến Thức vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ không tưởng đến Vô sở hữu xứ, trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong thế giới hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, trong thế giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau, và phàm điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy nghĩ đến, trong ấy vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
TTC 2Này Ananda, có thể như vậy, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, có thể trong đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió, trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ, trong Thức vô biên xứ không tưởng đến Thức vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ không tưởng đến Vô sở hữu xứ, trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong thế giới hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, trong thế giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau. Và phàm điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy nghĩ đến, trong ấy vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
TTC 3Nhưng bạch Thế Tôn, như thế nào một vị Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau… vị ấy có thể không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
TTC 4Ở đây, này Ananda, vị Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, vị Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau… vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
TTC 5Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn, rồi đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió, trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ, trong Thức vô biên xứ không tưởng đến Thức vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ không tưởng đến Vô sở hữu xứ, trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong thế giới hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, trong thế giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau. Và phàm điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy nghĩ đến, trong ấy vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
TTC 6Này Ananda, có thể như vậy, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy… được ý suy nghĩ đến, vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
TTC 7Nhưng thưa Tôn giả Sàriputta, như thế nào, một Tỷ-kheo, khi chứng được Thiền định như vậy… được ý suy nghĩ đến, vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
TTC 8Ở đây, này Hiền giả Ananda, Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Như vậy, này Hiền giả Ananda, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau… vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
TTC 9Thật vi diệu thay, thưa Hiền giả! Thật hy hữu thay, thưa Hiền giả! Sự giải thích của Ðạo Sư và đệ tử tương hợp, tương hội, không tương phản nhau, nghĩa với nghĩa, lời với lời, tức là đối với câu tối thượng. Thưa Hiền giả, vừa rồi tôi đã đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này, Thế Tôn với những câu thế này với những lời thế này, đã trả lời về ý nghĩa này, giống như Tôn giả Sàriputta. Thật vi diệu thay, Hiền giả! Thật hy hữu thay, Hiền giả! Sự giải thích của Ðạo Sư và đệ tử sẽ tương hợp, sẽ tương hội, không tương phản nhau tức là về câu tối thượng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
7. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn như sau:
“Siyā nu kho, bhante, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“Could it be, sir, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
Bạch Thế Tôn, có thể có chăng cho một Tỳ khưu sự chứng đắc định như vậy, mà theo đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất, không có tưởng về nước trong nước, không có tưởng về lửa trong lửa, không có tưởng về gió trong gió, không có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không có tưởng về đời này trong đời này, không có tưởng về đời sau trong đời sau, và đối với cái được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, đạt được, tìm cầu, được tâm suy tư, ở đó cũng không có tưởng; nhưng lại có tưởng?
“Siyā, ānanda, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
“It could be, Ānanda, that a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
Này Ānanda, có thể có cho một Tỳ khưu sự chứng đắc định như vậy, mà theo đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất, không có tưởng về nước trong nước, không có tưởng về lửa trong lửa, không có tưởng về gió trong gió, không có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không có tưởng về đời này trong đời này, không có tưởng về đời sau trong đời sau, và đối với cái được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, đạt được, tìm cầu, được tâm suy tư, ở đó cũng không có tưởng; nhưng lại có tưởng.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa, saññī ca pana assā”ti.
“But how could this be, sir?”
Bạch Thế Tôn, nhưng làm thế nào có thể có cho một Tỳ khưu sự chứng đắc định như vậy, mà theo đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất, không có tưởng về nước trong nước, không có tưởng về lửa trong lửa, không có tưởng về gió trong gió, không có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không có tưởng về đời này trong đời này, không có tưởng về đời sau trong đời sau, và đối với cái được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, đạt được, tìm cầu, được tâm suy tư, ở đó cũng không có tưởng; nhưng lại có tưởng?
“Idhānanda, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.
Evaṁ kho, ānanda, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa, saññī ca pana assā”ti.
“Ānanda, it’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’
That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
Này Ānanda, ở đây, Tỳ khưu có tưởng như vầy: ‘Cái này là tịch tịnh, cái này là vi diệu, tức là sự an tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn’. Này Ānanda, như vậy có thể có cho một Tỳ khưu sự chứng đắc định như vậy, mà theo đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất, không có tưởng về nước trong nước, không có tưởng về lửa trong lửa, không có tưởng về gió trong gió, không có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không có tưởng về đời này trong đời này, không có tưởng về đời sau trong đời sau, và đối với cái được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, đạt được, tìm cầu, được tâm suy tư, ở đó cũng không có tưởng; nhưng lại có tưởng.
Atha kho āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
And then Ānanda approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, cùng Tôn giả Sāriputta nói lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, đáng ghi nhớ, Tôn giả Ānanda ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta lời này:
“Siyā nu kho, āvuso sāriputta, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa, saññī pana assā”ti.
“Siyā, āvuso ānanda, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa, saññī ca pana assā”ti.
“Could it be, reverend Sāriputta, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth … And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
“It could be, Reverend Ānanda.”
“Này hiền giả Sāriputta, có thể nào có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, trong đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất ... cho đến ... đối với những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý quán sát, vị ấy cũng không có tưởng ở nơi ấy, nhưng vị ấy lại có tưởng không?” – “Này hiền giả Ānanda, có thể có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, trong đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất ... cho đến ... đối với những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý quán sát, vị ấy cũng không có tưởng ở nơi ấy, nhưng vị ấy lại có tưởng.”
“Yathā kathaṁ panāvuso sāriputta, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa, saññī ca pana assā”ti?
“But how could this be?”
“Nhưng này hiền giả Sāriputta, làm thế nào để có thể có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, trong đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất ... cho đến ... đối với những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý quán sát, vị ấy cũng không có tưởng ở nơi ấy, nhưng vị ấy lại có tưởng?”
“Idha, āvuso ānanda, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti. Evaṁ kho, āvuso ānanda, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tatrāpi na saññī assa, saññī ca pana assā”ti.
“Ānanda, it’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’ That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth … And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
“Này hiền giả Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu có tưởng như vầy: ‘Đây là an tịnh, đây là vi diệu, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự diệt tận, Niết Bàn.’ Này hiền giả Ānanda, chính là như vậy mà có thể có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, trong đó vị ấy không có tưởng về đất trong đất ... cho đến ... đối với những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý quán sát, vị ấy cũng không có tưởng ở nơi ấy, nhưng vị ấy lại có tưởng.”
“Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso. Yatra hi nāma satthu ceva sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na viggayhissati, yadidaṁ aggapadasmiṁ. Idānāhaṁ, āvuso, bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ. Bhagavāpi me etehi akkharehi etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi āyasmā sāriputto. Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso. Yatra hi nāma satthu ceva sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na viggayhissati, yadidaṁ aggapadasmin”ti.
Sattamaṁ.
“It’s incredible, it’s amazing! How the meaning and the phrasing of the Teacher and the disciple fit together and agree without conflict when it comes to the chief matter! Just now I went to the Buddha and asked him about this matter. And the Buddha explained it to me in this manner, with these words and phrases, just like Venerable Sāriputta. It’s incredible, it’s amazing! How the meaning and the phrasing of the Teacher and the disciple fit together and agree without conflict when it comes to the chief matter!”
“Thật kỳ diệu, thưa hiền giả! Thật hy hữu, thưa hiền giả! Về trạng thái tối thượng này, ý nghĩa và văn cú của bậc Đạo Sư và của vị đệ tử lại tương hợp, lại ăn khớp, không có gì mâu thuẫn! Thưa hiền giả, vừa rồi tôi đã đến yết kiến đức Thế Tôn và đã hỏi Ngài về ý nghĩa này. Đức Thế Tôn cũng đã giải thích cho tôi về ý nghĩa này bằng chính những mẫu tự này, những câu chữ này, những văn cú này, giống hệt như Tôn giả Sāriputta đã giải thích. Thật kỳ diệu, thưa hiền giả! Thật hy hữu, thưa hiền giả! Về trạng thái tối thượng này, ý nghĩa và văn cú của bậc Đạo Sư và của vị đệ tử lại tương hợp, lại ăn khớp, không có gì mâu thuẫn!”