- Aṅguttara Nikāya 11.12
- 2. Anussativagga
Bản dịch
AN 11.12 — Mahànàma (2)
Dutiyamahānāmasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Lúc bấy giờ, họ Thích Mahànàma mới khỏi bệnh, khỏi bệnh không bao lâu. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Y làm xong, Thế Tôn sẽ ra đi, bộ hành…” (Tới đây, kinh này giống như kinh số 12 trước, từ số 1 đến số 2, số 3 cho đến câu…) “Khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tùy niệm Phật này, này Mahànàma, Ông cần phải tu tập khi đi, Ông cần phải tu tập khi đứng, Ông cần phải tu tập khi ngồi, Ông cần phải tu tập khi nằm, Ông cần phải tu tập khi chú tâm vào các công việc, Ông cần phải tu tập khi Ông sống tại trú xứ đầy những con nít”.
TTC 4Lại nữa, này Mahànàma, , Ông cần phải tu tập tùy niệm Pháp… tùy niệm Tăng… tùy niệm Giới của mình… tùy niệm Thí của mình… tùy niệm chư Thiên. Có bốn Thiên vương Thiên, có chư Thiên cõi trời Ba mươi ba; có chư Thiên Dạ ma, có chư Thiên Ðâu suất đà, có chư thiên Hóa Lạc, có chư Thiên Tha hóa Tự tại, có chư Thiên Phạm chúng, có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy, cũng có đầy đủ nơi Ta. Ðầy đủ với nghe Pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia, nghe Pháp như vậy cũng có đầy đủ ở nơi Ta. Ðầy đủ với thí như vậy… đầy đủ với trí tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh tại chỗ kia. Trí tuệ như vậy, cũng có đầy đủ ở nơi Ta. Trong khi vị ấy tùy niệm tín, giới, nghe pháp, thí, tuệ của tự mình và chư Thiên ấy, trong khi ấy, tâm không bị ám ảnh; trong khi ấy, tâm không bị sân ám ảnh; trong khi ấy, tâm không bị si ám ảnh; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ duyên chư Thiên. Này Mahànàma, vị Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tùy niệm chư Thiên này, này Mahànàma, Ông cần phải tu tập khi đi, Ông cần phải tu tập khi đứng, Ông cần phải tu tập khi ngồi, Ông cần phải tu tập khi nằm, Ông cần phải tu tập khi chú tâm vào các công việc, Ông cần phải tu tập, khi Ông sống tại trú xứ đầy những con nít.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 11.12
- 2. Recollection
With Mahānāma (2nd)
2. Bài kinh Mahānāma thứ hai
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Tena kho pana samayena mahānāmo sakko gilānā vuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti: “niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. Now at that time Mahānāma the Sakyan had recently recovered from an illness. At that time several mendicants were making a robe for the Buddha …
12. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodha. Lúc bấy giờ, Mahānāma người Sakka vừa mới khỏi bệnh, vừa mới bình phục sau cơn bệnh. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỳ khưu đang làm y cho Thế Tôn, (với ý nghĩ): ‘Sau khi y được làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ lên đường du hành’.
Assosi kho mahānāmo sakko: “sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti: ‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti. Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante: ‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti—niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’ti. Tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban”ti?
Mahānāma the Sakyan heard about this. He went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, I have heard that several mendicants are making a robe for the Buddha, thinking that when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering. Now, we spend our life in various ways. Which of these should we practice?”
Mahānāma người Sakka nghe rằng: ‘Nhiều vị Tỳ khưu đang làm y cho Thế Tôn, (với ý nghĩ): “Sau khi y được làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ lên đường du hành”’. Rồi Mahānāma người Sakka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma người Sakka bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, con nghe rằng: “Nhiều vị Tỳ khưu đang làm y cho Thế Tôn, (với ý nghĩ): ‘Sau khi y được làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ lên đường du hành’”. Bạch Thế Tôn, đối với chúng con là những người sống với nhiều cách sống khác nhau, chúng con nên sống với cách sống nào?’
“Sādhu sādhu, mahānāma. Etaṁ kho, mahānāma, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ yaṁ tumhe tathāgataṁ upasaṅkamitvā puccheyyātha: ‘tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban’ti? Saddho kho, mahānāma, ārādhako hoti, no assaddho; āraddhavīriyo ārādhako hoti, no kusīto; upaṭṭhitassati ārādhako hoti, no muṭṭhassati; samāhito ārādhako hoti, no asamāhito; paññavā ārādhako hoti, no duppañño. Imesu kho tvaṁ, mahānāma, pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cha dhamme uttari bhāveyyāsi.
“Good, good, Mahānāma! It’s appropriate that gentlemen such as you come to me and ask: ‘We spend our life in various ways. Which of these should we practice?’ The faithful succeed, not the faithless. The energetic succeed, not the lazy. The mindful succeed, not the unmindful. Those with immersion succeed, not those without immersion. The wise succeed, not the witless. When you’re grounded on these five things, go on to develop six further things.
“Lành thay, lành thay, này Mahānāma! Này Mahānāma, thật là xứng đáng cho các thiện nam tử như các ông khi đến gần Như Lai và hỏi rằng: ‘Bạch Thế Tôn, đối với chúng con đang sống với nhiều cách an trú khác nhau, chúng con nên an trú theo cách nào?’ Này Mahānāma, người có đức tin thì thành tựu, người không có đức tin thì không thành tựu; người tinh tấn thì thành tựu, người lười biếng thì không thành tựu; người an trú niệm thì thành tựu, người thất niệm thì không thành tựu; người có định tâm thì thành tựu, người không có định tâm thì không thành tựu; người có trí tuệ thì thành tựu, người không có trí tuệ thì không thành tựu. Này Mahānāma, sau khi an trú trong năm pháp này, ông hãy tu tập thêm sáu pháp nữa.”
Idha tvaṁ, mahānāma, tathāgataṁ anussareyyāsi: ‘itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Yasmiṁ, mahānāma, samaye ariyasāvako tathāgataṁ anussarati, nevassa tasmiṁ samaye rāgapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na dosapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na mohapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti; ujugatamevassa tasmiṁ samaye cittaṁ hoti tathāgataṁ ārabbha. Ujugatacitto kho pana, mahānāma, ariyasāvako labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vediyati, sukhino cittaṁ samādhiyati. Imaṁ kho tvaṁ, mahānāma, buddhānussatiṁ gacchantopi bhāveyyāsi, ṭhitopi bhāveyyāsi, nisinnopi bhāveyyāsi, sayānopi bhāveyyāsi, kammantaṁ adhiṭṭhahantopi bhāveyyāsi, puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasantopi bhāveyyāsi.
Firstly, you should recollect the Realized One: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ When a noble disciple recollects the Realized One their mind is not full of greed, hate, and delusion. At that time their mind is quite unswerving, based on the Realized One. A noble disciple whose mind is unswerving finds inspiration in the meaning and the teaching, and finds joy connected with the teaching. When they’re joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when they’re blissful, the mind becomes immersed in samādhi. You should develop this recollection of the Buddha while walking, standing, sitting, lying down, while working, and while at home with your children.
“Ở đây, này Mahānāma, ông hãy tùy niệm Như Lai: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc ... Thiên Nhân Sư, là bậc Phật, là bậc Thế Tôn.’ Này Mahānāma, vào lúc vị Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, lúc ấy tâm của vị ấy không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; lúc ấy tâm của vị ấy trở nên chánh trực, hướng về Như Lai. Này Mahānāma, khi vị Thánh đệ tử có tâm chánh trực thì được sự hân hoan về ý nghĩa, được sự hân hoan về Chánh pháp, được niềm vui liên hệ đến Chánh pháp. Khi có niềm vui, hỷ sanh; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Này Mahānāma, ông hãy tu tập pháp tùy niệm Phật này khi đang đi, khi đang đứng, khi đang ngồi, khi đang nằm, khi đang làm việc, và cả khi đang sống trong cảnh nhà cửa chật chội con cái.”
Puna caparaṁ tvaṁ, mahānāma, dhammaṁ anussareyyāsi …pe… saṅghaṁ anussareyyāsi …pe… attano sīlaṁ anussareyyāsi …pe… attano cāgaṁ anussareyyāsi …pe… devatā anussareyyāsi: ‘santi devā cātumahārājikā …pe… santi devā tatuttari. Yathārūpāya saddhāya samannāgatā tā devatā ito cutā tatthūpapannā, mayhampi tathārūpā saddhā saṁvijjati. Yathārūpena sīlena … sutena … cāgena … paññāya samannāgatā tā devatā ito cutā tatthūpapannā, mayhampi tathārūpā paññā saṁvijjatī’ti. Yasmiṁ, mahānāma, samaye ariyasāvako attano ca tāsañca devatānaṁ saddhañca sīlañca sutañca cāgañca paññañca anussarati, nevassa tasmiṁ samaye rāgapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na dosapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na mohapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti; ujugatamevassa tasmiṁ samaye cittaṁ hoti devatā ārabbha. Ujugatacitto kho pana, mahānāma, ariyasāvako labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vediyati, sukhino cittaṁ samādhiyati. Imaṁ kho tvaṁ, mahānāma, devatānussatiṁ gacchantopi bhāveyyāsi, ṭhitopi bhāveyyāsi, nisinnopi bhāveyyāsi, sayānopi bhāveyyāsi, kammantaṁ adhiṭṭhahantopi bhāveyyāsi, puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasantopi bhāveyyāsī”ti.
Dutiyaṁ.
Furthermore, you should recollect the teaching … the Saṅgha … your own ethical conduct … your own generosity … the deities … When a noble disciple recollects the faith, ethics, learning, generosity, and wisdom of both themselves and the deities their mind is not full of greed, hate, and delusion. At that time their mind is quite unswerving, based on the deities. A noble disciple whose mind is unswerving finds inspiration in the meaning and the teaching, and finds joy connected with the teaching. When they’re joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when they’re blissful, the mind becomes immersed in samādhi. You should develop this recollection of the deities while walking, standing, sitting, lying down, while working, and while at home with your children.”
“Lại nữa, này Mahānāma, ông hãy tùy niệm Chánh pháp... tùy niệm Tăng chúng... tùy niệm về giới của mình... tùy niệm về sự bố thí của mình... tùy niệm về chư thiên: ‘Có chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương... có chư thiên ở các cõi cao hơn. Các vị chư thiên ấy, sau khi mệnh chung từ đây, đã được sanh về đó vì được trang bị đức tin như vậy; ta cũng có đức tin như vậy. Các vị chư thiên ấy, sau khi mệnh chung từ đây, đã được sanh về đó vì được trang bị giới hạnh... văn... thí... trí tuệ như vậy; ta cũng có trí tuệ như vậy.’ Này Mahānāma, vào lúc vị Thánh đệ tử tùy niệm về đức tin, giới hạnh, sự học hỏi, sự bố thí, và trí tuệ của mình và của các vị chư thiên ấy, lúc ấy tâm của vị ấy không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; lúc ấy tâm của vị ấy trở nên chánh trực, hướng về chư thiên. Này Mahānāma, khi vị Thánh đệ tử có tâm chánh trực thì được sự hân hoan về ý nghĩa, được sự hân hoan về Chánh pháp, được niềm vui liên hệ đến Chánh pháp. Khi có niềm vui, hỷ sanh; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Này Mahānāma, ông hãy tu tập pháp tùy niệm chư thiên này khi đang đi, khi đang đứng, khi đang ngồi, khi đang nằm, khi đang làm việc, và cả khi đang sống trong cảnh nhà cửa chật chội con cái.” Hết.