- Aṅguttara Nikāya 10.6
- 1. Ānisaṁsavagga
Bản dịch
AN 10.6 — Ðịnh Do Bậc Ðạo Sư Thuyết
Samādhisutta
TTC 1Bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có thể có chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể đi trong đất không tưởng đến đất; trong nước không tưởng đến nước; trong lửa không tưởng đến lửa; trong gió không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại có thể không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
—Này Ananda, có thể như vậy, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất; trong nước không tưởng đến nước; trong lửa không tưởng đến lửa; trong gió không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại, không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
TTC 2—Nhưng bạch Thế Tôn, như thế nào một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
—Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước không tưởng đến nước… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.6
- 1. Benefits
Immersion
6. Kinh Định
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“siyā nu kho, bhante, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“Siyā, ānanda, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Could it be, sir, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. And they wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And yet they would still perceive.”
“It could be, Ānanda, that a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. And they wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And yet they would still perceive.”
6. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn... Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, liệu có thể có được sự chứng đắc định như vậy cho một vị Tỳ khưu, theo đó vị ấy không phải là người có tưởng về đất trong đất, không phải là người có tưởng về nước trong nước, không phải là người có tưởng về lửa trong lửa, không phải là người có tưởng về gió trong gió, không phải là người có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không phải là người có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không phải là người có tưởng về đời này trong đời này, không phải là người có tưởng về đời sau trong đời sau; nhưng vẫn là người có tưởng chăng?” “Này Ānanda, có thể có được sự chứng đắc định như vậy cho một vị Tỳ khưu, theo đó vị ấy không phải là người có tưởng về đất trong đất, không phải là người có tưởng về nước trong nước, không phải là người có tưởng về lửa trong lửa, không phải là người có tưởng về gió trong gió, không phải là người có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không phải là người có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không phải là người có tưởng về đời này trong đời này, không phải là người có tưởng về đời sau trong đời sau; nhưng vẫn là người có tưởng.”
“Yathā kathaṁ pana, bhante, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“But how could this be, sir?”
“Bạch Thế Tôn, nhưng làm thế nào mà một vị Tỳ khưu có thể có được sự chứng đắc định như vậy, theo đó vị ấy không phải là người có tưởng về đất trong đất, không phải là người có tưởng về nước trong nước, không phải là người có tưởng về lửa trong lửa, không phải là người có tưởng về gió trong gió, không phải là người có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không phải là người có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không phải là người có tưởng về đời này trong đời này, không phải là người có tưởng về đời sau trong đời sau; nhưng vẫn là người có tưởng chăng?”
“Idhānanda, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.
Evaṁ kho, ānanda, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Ānanda, it’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’
That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. And they wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And yet they would still perceive.”
“Này Ānanda, ở đây, vị Tỳ khưu có tưởng như vầy: ‘Cái này là tịch tịnh, cái này là vi diệu, tức là sự an tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự diệt tận, Niết-bàn’. Này Ānanda, như vậy đó, một vị Tỳ khưu có thể có được sự chứng đắc định như vậy, theo đó vị ấy không phải là người có tưởng về đất trong đất, không phải là người có tưởng về nước trong nước, không phải là người có tưởng về lửa trong lửa, không phải là người có tưởng về gió trong gió, không phải là người có tưởng về Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, không phải là người có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, không phải là người có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không phải là người có tưởng về đời này trong đời này, không phải là người có tưởng về đời sau trong đời sau; nhưng vẫn là người có tưởng.” Kinh thứ sáu.