- Aṅguttara Nikāya 10.32
- 4. Upālivagga
Bản dịch
AN 10.32 — Người Ðoạn Sự
Pātimokkhaṭṭhapanāsutta
TTC 1—Bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo thành tựu bao nhiêu pháp để được làm người đoạn sự viên?
—Này Upàli, một Tỷ-kheo thành tựu mười pháp để được làm người đoạn sự viên. Thế nào là mười?
TTC 2Ở đây, này Upàli, vị Tỷ-kheo giữ giới sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất chứa điều đã nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc tụng bằng lời, được quan sát với ý, được khéo léo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha được khéo truyền đạt một cách rộng rãi, được khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy được khéo an trú trên luật, không có dao động; có khả năng làm cho cả hai phe chống đối thông hiểu, chinh phục họ, làm cho họ thấy, làm cho họ hòa giải với nhau. Vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt các tránh sự, biết các tránh sự, biết tránh sự sanh khởi, biết tránh sự đoạn diệt, biết con đường đưa đến tránh sự được đoạn diệt.
Thành tựu mười pháp này, này Upàli, Tỷ-kheo được xem là khả năng làm vị đoạn sự viên.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.32
- 4. With Upāli
Suspending the Recitation of the Monastic Code
2. Kinh Hoãn Pātimokkha
“Kati nu kho, bhante, pātimokkhaṭṭhapanā”ti?
“Dasa kho, upāli, pātimokkhaṭṭhapanā. Katame dasa? Pārājiko tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, pārājikakathā vippakatā hoti, anupasampanno tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, anupasampannakathā vippakatā hoti, sikkhaṁ paccakkhātako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, sikkhaṁ paccakkhātakakathā vippakatā hoti, paṇḍako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, paṇḍakakathā vippakatā hoti, bhikkhunidūsako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, bhikkhunidūsakakathā vippakatā hoti—ime kho, upāli, dasa pātimokkhaṭṭhapanā”ti.
Dutiyaṁ.
“Sir, how many grounds are there to suspend the recitation of the monastic code?”
“Upāli, there are ten grounds to suspend the recitation of the monastic code. What ten? A mendicant who has committed an expulsion offense is sitting in the assembly. A discussion about whether someone has committed an expulsion offense is unfinished. Someone who is not fully ordained is sitting in the assembly. A discussion about whether someone is fully ordained or not is unfinished. Someone who has resigned the training is sitting in the assembly. A discussion about whether someone has resigned the training or not is unfinished. A eunuch is sitting in the assembly. A discussion about whether someone is a eunuch is unfinished. A raper of nuns is sitting in the assembly. A discussion about whether or not someone is a raper of nuns is unfinished. These are the ten grounds to suspend the recitation of the monastic code.”
32. “Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu trường hợp hoãn Pātimokkha?” “Này Upāli, có mười trường hợp hoãn Pātimokkha. Mười trường hợp ấy là gì? Người phạm tội pārājika đang ngồi trong hội chúng ấy; câu chuyện về người phạm tội pārājika chưa được giải quyết; người chưa thọ cụ túc giới đang ngồi trong hội chúng ấy; câu chuyện về người chưa thọ cụ túc giới chưa được giải quyết; người đã xả giới đang ngồi trong hội chúng ấy; câu chuyện về người đã xả giới chưa được giải quyết; người bán ái đang ngồi trong hội chúng ấy; câu chuyện về người bán ái chưa được giải quyết; người xâm hại tỳ khưu ni đang ngồi trong hội chúng ấy; câu chuyện về người xâm hại tỳ khưu ni chưa được giải quyết. Này Upāli, đây là mười trường hợp hoãn Pātimokkha.” (Kinh) thứ hai.