- Aṅguttara Nikāya 10.24
- 3. Mahāvagga
Bản dịch
AN 10.24 — Maha Cunda
Mahācundasutta
TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì tại Sahajàti. Tại đấy, tôn giả Mahàcunda gọi các Tỷ-kheo.
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa Hiền giả.
—Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:
TTC 2—Thưa các Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não lại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “ Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham chinh phục Tôn Giả ấy và tồn tại. Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”
TTC 3Thưa các Hiền giả, nếu Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “tôi được tu tập về thân, được tu tập về giới, được tu tập về tâm, được tu tập về tuệ”. Thưa chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt, vì rằng tham chinh phục vị ấy và tồn tại. Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không co mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt…các dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”
TTC 4Và này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ…. nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không cần rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.
TTC 5Ví như, này chư Hiền, có người nghèo khổ có thể nói về giàu sang; không có tài sản có thể nói về tài sản; không có sở hữu có thể nói về sở hữu, nhưng khi có cơ hội tạo ra tái sản, vị ấy không có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng. Người ta có thể biết về người ấy như sau: “Vị này, tuy nghèo khổ, lại nói về giàu sang; vị này, tuy không có tài sản, lại nói về tài sản; vị này tuy không có sở hữu, lại nói về sở hữu. Vì cớ sao? Vì rằng vị này, khi có cơ hội tạo ra tài sản, vị ấy không có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng”. Cũng vậy, này chư hiền, vị Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về thân, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại; nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.
TTC 6Này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận…nếu gièm pha… nếu não hại… nếu san tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị ấy và tồn tại, thời vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị này rõ biết như thế nào để tham không có mặt… Như vậy, tham không chinh phục vị ấy và tồn tại… sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt…não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không chinh phục vị này và tồn tại”.
TTC 7Này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ.. nếu hiềm hận…. nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác đố… nếu ác dục không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị này và tồn tại… sân không có mặt… si không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt… Như vậy, ác dục không chinh phục vị này và tồn tại”.
TTC 8Này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này. Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ. “Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, thời vị ấy cần phải được biết như sau: “Tôn giả này biết rõ như thế nào để được tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị ấy và tồn tại. Sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không chinh phục vị Tôn giả này và không tồn tại.”
TTC 9Này chư Hiền, ví như một người giàu sang có thể nói về giàu sang; một người có tài sản có thể nói về tài sản; một người có sở hữu có thể nói về sở hữu. Khi có cơ hội tạo ra tài sản, vị ấy có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng. Và người ta có thể biết về người ấy như sau: “Có giàu sang, vị này nói về giàu sang; có tài sản, vị này nói về tài sản; có của cải, vị này nói về của cải. Vì sao? Vì rằng vị này, khi có cơ hôi tạo ra tài sản, vị ấy có thể tạo thành tài sản, lúa gạo, bạc hay vàng”. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này. Tôi có tu tập về thân, tôi có tu tập về giới, tôi có tu tập về tâm, tôi có tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham không chinh phục vị ấy và tồn tại… nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được biết như sau: “Vị Tôn giả này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham không chinh phục vị này và tồn tại. Vị Tôn giả này rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si… phẫn nộ… hiềm hận… gièm pha… não hại… xan tham… ác tật đố… ác dục không có mặt. Như vậy ác dục không chinh phục vị Tôn giả này và tồn tại”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.24
- 3. The Great Chapter
By Mahācunda
4. Kinh Đại Cunda
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahācundo cetīsu viharati sahajātiyaṁ. Tatra kho āyasmā mahācundo bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahācundassa paccassosuṁ. Āyasmā mahācundo etadavoca:
At one time Venerable Mahācunda was staying in the land of the Cetīs at Sahajāti. There he addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Venerable Mahācunda said this:
24. Một thời, Tôn giả Đại Cunda trú ở xứ Ceti, tại thành Sahajāti. Tại đó, Tôn giả Đại Cunda gọi các Tỳ khưu: ‘Này chư hiền Tỳ khưu.’ Các Tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Đại Cunda: ‘Thưa hiền giả.’ Tôn giả Đại Cunda nói điều này:
“Ñāṇavādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno: ‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhamman’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati; nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
“Reverends, a mendicant who makes a declaration of knowledge says: ‘I know this teaching, I see this teaching.’ Suppose that greed masters that mendicant and keeps going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable does not have the understanding that would eliminate greed, so greed masters them and keeps going. They don’t have the understanding that would eliminate hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes, so corrupt wishes master them and keep going.’
Này chư hiền, một Tỳ khưu nói lời chủ trương về trí tuệ: ‘Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này.’ Này chư hiền, nếu tham chi phối và tồn tại nơi vị Tỳ khưu ấy, nếu sân... si... phẫn nộ... oán hận... phủ nhận công ơn... ganh đua... keo kiệt... tật đố xấu xa... ước muốn xấu xa chi phối và tồn tại nơi vị ấy, vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì tham không khởi lên, chính vì thế mà tham chi phối và tồn tại nơi vị tôn giả này; vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì sân không khởi lên... si... phẫn nộ... oán hận... phủ nhận công ơn... ganh đua... keo kiệt... tật đố xấu xa... ước muốn xấu xa không khởi lên, chính vì thế mà ước muốn xấu xa chi phối và tồn tại nơi vị tôn giả này.’
Bhāvanāvādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno: ‘bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati; nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
A mendicant who makes a declaration of development says: ‘I am developed in physical endurance, ethics, mind, and wisdom.’ Suppose that greed masters that mendicant and keeps going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable does not have the understanding that would eliminate greed, so greed masters them and keeps going. They don’t have the understanding that would eliminate hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes, so corrupt wishes master them and keep going.’
“Này chư hiền, vị tỳ khưu nói về sự tu tập rằng: ‘Tôi đã tu tập về thân, đã tu tập về giới, đã tu tập về tâm, đã tu tập về tuệ.’ Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu ấy bị tham chi phối, sân… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa chi phối, vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì tham không khởi sanh, chính vì thế mà tham chi phối vị tôn giả này; vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì sân không khởi sanh… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không khởi sanh, chính vì thế mà dục vọng xấu xa chi phối vị tôn giả này.’”
Ñāṇavādañca, āvuso, bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca: ‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati; nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
A mendicant who makes a declaration of both knowledge and development says: ‘I know this teaching, I see this teaching. And I am developed in physical endurance, ethics, mind, and wisdom.’ Suppose that greed masters that mendicant and keeps going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable does not have the understanding that would eliminate greed, so greed masters them and keeps going. They don’t have the understanding that would eliminate hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes, so corrupt wishes master them and keep going.’
“Này chư hiền, vị tỳ khưu nói về tri kiến và nói về sự tu tập rằng: ‘Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi đã tu tập về thân, đã tu tập về giới, đã tu tập về tâm, đã tu tập về tuệ.’ Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu ấy bị tham chi phối, sân… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa chi phối, vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì tham không khởi sanh, chính vì thế mà tham chi phối vị tôn giả này; vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì sân không khởi sanh… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không khởi sanh, chính vì thế mà dục vọng xấu xa chi phối vị tôn giả này.’”
Seyyathāpi, āvuso, puriso daliddova samāno aḍḍhavādaṁ vadeyya, adhanova samāno dhanavāvādaṁ vadeyya, abhogova samāno bhogavāvādaṁ vadeyya. So kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne na sakkuṇeyya upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā. Tamenaṁ evaṁ jāneyyuṁ: ‘daliddova ayamāyasmā samāno aḍḍhavādaṁ vadeti, adhanova ayamāyasmā samāno dhanavāvādaṁ vadeti, abhogavāva ayamāyasmā samāno bhogavāvādaṁ vadeti. Taṁ kissa hetu? Tathā hi ayamāyasmā kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne na sakkoti upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā’ti.
Suppose a poor, needy, and penniless person was to declare themselves to be rich, affluent, and wealthy. But when it came time to make a payment they weren’t able to come up with any money, grain, silver, or gold. They would know of them: ‘This person declares themselves to be rich, affluent, and wealthy, but they are in fact poor, penniless, and needy.’ Why is that? Because when it came time to make a payment they weren’t able to come up with any money, grain, silver, or gold.
“Này chư hiền, ví như có người đàn ông, trong khi nghèo khó lại nói lời giàu có, trong khi không có tài sản lại nói lời có tài sản, trong khi không có của cải lại nói lời có của cải. Khi có bất cứ công việc gì cần đến tài sản phát sanh, người ấy không thể đưa ra tài sản, hoặc lúa gạo, hoặc bạc, hoặc vàng. Người ta sẽ biết về người ấy như sau: ‘Vị tôn giả này, trong khi nghèo khó lại nói lời giàu có, trong khi không có tài sản lại nói lời có tài sản, trong khi không có của cải lại nói lời có của cải. Vì sao vậy? Bởi vì vị tôn giả này, khi có bất cứ công việc gì cần đến tài sản phát sanh, không thể đưa ra tài sản, hoặc lúa gạo, hoặc bạc, hoặc vàng.’”
Evamevaṁ kho, āvuso, ñāṇavādañca bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca: ‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya tiṭṭhati; nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
In the same way, a mendicant who makes a declaration of knowledge and development says: ‘I know this teaching, I see this teaching. And I am developed in physical endurance, ethics, mind, and wisdom.’ Suppose that greed masters that mendicant and keeps going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable does not have the understanding that would eliminate greed, so greed masters them and keeps going. They don’t have the understanding that would eliminate hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes, so corrupt wishes master them and keep going.’
“Này chư hiền, cũng tương tự như vậy, vị tỳ khưu nói về tri kiến và nói về sự tu tập rằng: ‘Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi đã tu tập về thân, đã tu tập về giới, đã tu tập về tâm, đã tu tập về tuệ.’ Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu ấy bị tham chi phối, sân… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa chi phối, vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì tham không khởi sanh, chính vì thế mà tham chi phối vị tôn giả này; vị tôn giả này không biết theo cách mà người biết thì sân không khởi sanh… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không khởi sanh, chính vì thế mà dục vọng xấu xa chi phối vị tôn giả này.’”
Ñāṇavādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno: ‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhamman’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘ayamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati; tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
A mendicant who makes a declaration of knowledge says: ‘I know this teaching, I see this teaching.’ Suppose that greed does not master that mendicant and keep going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes don’t master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable has the understanding that eliminates greed, so greed doesn’t master them and keep going. They have the understanding that eliminates hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … and corrupt wishes, so corrupt wishes don’t master them and keep going.’
“Này chư hiền, vị tỳ khưu nói về tri kiến rằng: ‘Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này.’ Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu ấy không bị tham chi phối, sân… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không chi phối, vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Vị tôn giả này biết theo cách mà người biết thì tham không khởi sanh, chính vì thế mà tham không chi phối vị tôn giả này; vị tôn giả này biết theo cách mà người biết thì sân không khởi sanh… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không khởi sanh, chính vì thế mà dục vọng xấu xa không chi phối vị tôn giả này.’”
Bhāvanāvādaṁ, āvuso, bhikkhu vadamāno: ‘bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati; tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
A mendicant who makes a declaration of development says: ‘I am developed in physical endurance, ethics, mind, and wisdom.’ Suppose that greed does not master that mendicant and keep going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes don’t master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable has the understanding that eliminates greed, so greed doesn’t master them and keep going. They have the understanding that eliminates hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … and corrupt wishes, so corrupt wishes don’t master them and keep going.’
“Này chư hiền, vị tỳ khưu nói về sự tu tập rằng: ‘Tôi đã tu tập về thân, đã tu tập về giới, đã tu tập về tâm, đã tu tập về tuệ.’ Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu ấy không bị tham chi phối, sân… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không chi phối, vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Vị tôn giả này biết theo cách mà người biết thì tham không khởi sanh, chính vì thế mà tham không chi phối vị tôn giả này; vị tôn giả này biết theo cách mà người biết thì sân không khởi sanh… si… phẫn… hận… phú… não… tật… ganh tỵ xấu xa… dục vọng xấu xa không khởi sanh, chính vì thế mà dục vọng xấu xa không chi phối vị tôn giả này.’”
Ñāṇavādañca, āvuso, bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca: ‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati; tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’ti.
A mendicant who makes a declaration of both knowledge and development says: ‘I know this teaching, I see this teaching. And I am developed in physical endurance, ethics, mind, and wisdom.’ Suppose that greed does not master that mendicant and keep going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes don’t master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable has the understanding that eliminates greed, so greed doesn’t master them and keep going. They have the understanding that eliminates hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … and corrupt wishes, so corrupt wishes don’t master them and keep going.’
Này chư hiền, vị tỳ khưu nói về trí tuệ và nói về sự tu tập rằng: 'Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi có thân đã được tu tập, có giới đã được tu tập, có tâm đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập'. Này chư hiền, nếu tham không áp đảo, không tồn tại nơi vị tỳ khưu ấy, sân... si... phẫn... hận... gièm pha... ganh đua... bỏn xẻn... tật đố xấu xa... dục vọng xấu xa không áp đảo, không tồn tại, vị ấy nên được hiểu như vầy: 'Vị tôn giả này biết rõ theo cách mà người biết rõ thì tham không sanh khởi, do đó tham không áp đảo, không tồn tại nơi vị tôn giả này; vị tôn giả này biết rõ theo cách mà người biết rõ thì sân không sanh khởi... si... phẫn... hận... gièm pha... ganh đua... bỏn xẻn... tật đố xấu xa... dục vọng xấu xa không sanh khởi, do đó dục vọng xấu xa không áp đảo, không tồn tại nơi vị tôn giả này'.
Seyyathāpi, āvuso, puriso aḍḍhova samāno aḍḍhavādaṁ vadeyya, dhanavāva samāno dhanavāvādaṁ vadeyya, bhogavāva samāno bhogavāvādaṁ vadeyya. So kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sakkuṇeyya upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā. Tamenaṁ evaṁ jāneyyuṁ: ‘aḍḍhova ayamāyasmā samāno aḍḍhavādaṁ vadeti, dhanavāva ayamāyasmā samāno dhanavāvādaṁ vadeti, bhogavāva ayamāyasmā samāno bhogavāvādaṁ vadeti. Taṁ kissa hetu? Tathā hi ayamāyasmā kismiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sakkoti upanīhātuṁ dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā’ti.
Suppose a rich, affluent, and wealthy person was to declare themselves to be rich, affluent, and wealthy. And whenever it came time to make a payment they were able to come up with the money, grain, silver, or gold. They would know of them: ‘This person declares themselves to be rich, affluent, and wealthy, and they are in fact rich, affluent, and wealthy.’ Why is that? Because when it came time to make a payment they were able to come up with the money, grain, silver, or gold.
Này chư hiền, ví như một người đàn ông, vì là người giàu có nên nói lời của người giàu có, vì là người có của cải nên nói lời của người có của cải, vì là người có tài sản nên nói lời của người có tài sản. Khi có bất cứ công việc gì cần đến của cải sanh khởi, người ấy có thể mang ra của cải, hoặc lúa gạo, hoặc bạc, hoặc vàng. Họ nên biết về người ấy như vầy: 'Vị tôn giả này, vì là người giàu có nên nói lời của người giàu có; vị tôn giả này, vì là người có của cải nên nói lời của người có của cải; vị tôn giả này, vì là người có tài sản nên nói lời của người có tài sản. Vì sao vậy? Bởi vì vị tôn giả này, khi có bất cứ công việc gì cần đến của cải sanh khởi, có thể mang ra của cải, hoặc lúa gạo, hoặc bạc, hoặc vàng'.
Evamevaṁ kho, āvuso, ñāṇavādañca bhikkhu vadamāno bhāvanāvādañca: ‘jānāmimaṁ dhammaṁ, passāmimaṁ dhammaṁ, bhāvitakāyomhi bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño’ti. Tañce, āvuso, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati, doso … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhati, so evamassa veditabbo: ‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya tiṭṭhati; tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti … moho … kodho … upanāho … makkho … paḷāso … macchariyaṁ … pāpikā issā … pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya tiṭṭhatī’”ti.
Catutthaṁ.
In the same way, a mendicant who makes a declaration of knowledge and development says: ‘I know this teaching, I see this teaching. And I am developed in physical endurance, ethics, mind, and wisdom.’ Suppose that greed does not master that mendicant and keep going. Or that hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … or corrupt wishes don’t master that mendicant and keep going. You should know of them: ‘This venerable has the understanding that eliminates greed, so greed doesn’t master them and keep going. They have the understanding that eliminates hate … delusion … anger … acrimony … disdain … contempt … stinginess … nasty jealousy … and corrupt wishes, so corrupt wishes don’t master them and keep going.’”
Cũng vậy, này chư hiền, vị tỳ khưu nói về trí tuệ và nói về sự tu tập rằng: 'Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi có thân đã được tu tập, có giới đã được tu tập, có tâm đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập'. Này chư hiền, nếu tham không áp đảo, không tồn tại nơi vị tỳ khưu ấy, sân... si... phẫn... hận... gièm pha... ganh đua... bỏn xẻn... tật đố xấu xa... dục vọng xấu xa không áp đảo, không tồn tại, vị ấy nên được hiểu như vầy: 'Vị tôn giả này biết rõ theo cách mà người biết rõ thì tham không sanh khởi, do đó tham không áp đảo, không tồn tại nơi vị tôn giả này; vị tôn giả này biết rõ theo cách mà người biết rõ thì sân không sanh khởi... si... phẫn... hận... gièm pha... ganh đua... bỏn xẻn... tật đố xấu xa... dục vọng xấu xa không sanh khởi, do đó dục vọng xấu xa không áp đảo, không tồn tại nơi vị tôn giả này'. (Kinh thứ tư).