- Aṅguttara Nikāya 10.216
- 21. Karajakāyavagga
Bản dịch
AN 10.216 — Pháp Môn Quanh Co
Saṁsappanīyasutta
TTC 1Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Thế nào là pháp môn quanh co, này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn Chánh pháp?
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, bạo ngược, bàn tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình, sinh vật. Vị ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp của vị ấy quanh co, ngữ nghiệp của vị ấy quanh co, ý nghiệp của vị ấy quanh co, sanh thú quanh co, sanh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co. Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các địa ngục nhất hướng đau khổ hay các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò? Loại rắn, bò cạp, rết, con ăn rắn, con mèo, con chuột, con cú, và bất cứ loài súc vật nào, khi thấy người, trườn bò mà đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo là các sinh vật, sự sanh khởi của sinh vật. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người lấy của không cho… có tà hạnh trong các dục… nói láo… nói hai lưỡi… nói lời thô ác… nói lời phù phiếm… có tham ái… có sân tâm… có tà kiến, có kiến điên đảo rằng: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự; không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ; không có cha; không có các loài hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Người ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh co, ý nghiệp quanh co, sanh thú quanh co, sinh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co, Ta nói rằng… Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm là nghiệp gì, thiện hay ác, họ thừa tự nghiệp ấy.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Vị ấy không quanh co với ý, thân nghiệp của vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các Gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra, và được sinh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho… đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục… đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo… đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi… đoạn tận nói lời thô ác, từ bỏ nói lời thô ác… đoạn tận nói lời phù phiếm, từ bỏ nói lời phù phiếm… không có tham dục… không có sân tâm, có chánh kiến, không có các kiến điên đảo. Có bố thí, có cúng thí, có tế tự; có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ; có cha; có các loài hóa sanh. Ở đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Vị ấy không quanh co với thân, không quanh co với lời, không quanh co với ý. Thân nghiệp vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là những kẻ thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.216
- 21. The Body Born of Deeds
Creepy Creatures
6. Kinh Dịch Chuyển
“Saṁsappanīyapariyāyaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, I will teach you an exposition of the teaching on creepy creatures. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
216. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về pháp môn dịch chuyển. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” — “Vâng, bạch Thế Tôn.” — các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Katamo ca, bhikkhave, saṁsappanīyapariyāyo dhammapariyāyo? Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
“What is the exposition of the teaching on creepy creatures? Sentient beings are the owners of their deeds and heir to their deeds. Deeds are their womb, their relative, and their refuge. They shall be the heir of whatever deeds they do, whether good or bad.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là pháp môn về sự luân chuyển? Này các Tỳ khưu, chúng sanh có nghiệp là sở hữu của mình, là người thừa tự của nghiệp, có nghiệp là thai tạng, có nghiệp là quyến thuộc, có nghiệp là nơi nương tựa. Bất cứ nghiệp nào chúng sanh đã làm, thiện hay ác, họ sẽ là người thừa tự của nghiệp ấy.”
Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātī hoti luddo lohitapāṇi hatapahate niviṭṭho, adayāpanno sabbapāṇabhūtesu. So saṁsappati kāyena, saṁsappati vācāya, saṁsappati manasā. Tassa jimhaṁ kāyakammaṁ hoti, jimhaṁ vacīkammaṁ, jimhaṁ manokammaṁ, jimhā gati, jimhupapatti.
Take a certain someone who kills living creatures. They’re violent, bloody-handed, a hardened killer, merciless to all living beings. They’re creepy in body, speech, and mind. Doing crooked deeds by way of body, speech, and mind, their destiny and rebirth are crooked.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay vấy máu, chuyên tâm đập đánh, không có lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh. Vị ấy luân chuyển qua thân, luân chuyển qua lời nói, luân chuyển qua ý. Thân nghiệp của vị ấy cong vạy, khẩu nghiệp cong vạy, ý nghiệp cong vạy, sanh thú cong vạy, sự tái sanh cong vạy.”
Jimhagatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, jimhupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—ye vā ekantadukkhā nirayā yā vā saṁsappajātikā tiracchānayoni. Katamā ca sā, bhikkhave, saṁsappajātikā tiracchānayoni? Ahi vicchikā satapadī nakulā biḷārā mūsikā ulūkā, ye vā panaññepi keci tiracchānayonikā sattā manusse disvā saṁsappanti. Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti. Yaṁ karoti tena upapajjati. Upapannamenaṁ phassā phusanti. Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Someone whose destiny and rebirth is crooked is reborn in one of two places, I say: in an absolutely painful hell, or among the species of creepy animals. And what are the species of creepy animals? Snakes, scorpions, centipedes, mongooses, cats, mice, owls, or whatever other species of animal that creep away when they see humans. This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
“Này các Tỳ khưu, đối với người có sanh thú cong vạy, có sự tái sanh cong vạy, Ta tuyên bố một trong hai sanh thú sau đây: hoặc là các địa ngục hoàn toàn đau khổ, hoặc là loài bàng sanh có bản chất luân chuyển. Và này các Tỳ khưu, thế nào là loài bàng sanh có bản chất luân chuyển? Rắn, bọ cạp, rết, chồn, mèo, chuột, cú; hoặc bất cứ chúng sanh nào khác thuộc loài bàng sanh, khi thấy con người liền luân chuyển lẩn tránh. Này các Tỳ khưu, như vậy, do cái đã hiện hữu mà sự tái sanh của chúng sanh hiện hữu xảy ra. Do nghiệp đã làm, chúng sanh được tái sanh. Khi đã được tái sanh, các xúc chạm vào nó. Này các Tỳ khưu, như vậy Ta nói: ‘Chúng sanh là người thừa tự của nghiệp’.”
Idha pana, bhikkhave, ekacco adinnādāyī hoti …pe… kāmesumicchācārī hoti … musāvādī hoti … pisuṇavāco hoti … pharusavāco hoti … samphappalāpī hoti … abhijjhālu hoti … byāpannacitto hoti … micchādiṭṭhiko hoti viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ …pe… sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. So saṁsappati kāyena, saṁsappati vācāya, saṁsappati manasā. Tassa jimhaṁ kāyakammaṁ hoti, jimhaṁ vacīkammaṁ, jimhaṁ manokammaṁ, jimhā gati, jimhupapatti.
Take someone else who steals … commits sexual misconduct … lies … backbites … speaks harshly … indulges in talking nonsense … is covetous … has cruel intentions … has wrong view … They’re creepy in body, speech, and mind. Doing crooked deeds by way of body, speech, and mind, their destiny and rebirth are crooked.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có người lấy của không cho... tà hạnh trong các dục... nói dối... nói lời đâm thọc... nói lời thô ác... nói lời phù phiếm... tham lam... có tâm sân hận... có tà kiến, có tri kiến sai lạc: ‘Không có quả của bố thí... không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn... tự mình với thắng trí chứng ngộ và tuyên thuyết’. Vị ấy luân chuyển qua thân, luân chuyển qua lời nói, luân chuyển qua ý. Thân nghiệp của vị ấy cong vạy, khẩu nghiệp cong vạy, ý nghiệp cong vạy, sanh thú cong vạy, sự tái sanh cong vạy.”
Jimhagatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, jimhupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—ye vā ekantadukkhā nirayā yā vā saṁsappajātikā tiracchānayoni. Katamā ca sā, bhikkhave, saṁsappajātikā tiracchānayoni? Ahi vicchikā satapadī nakulā biḷārā mūsikā ulūkā, ye vā panaññepi keci tiracchānayonikā sattā manusse disvā saṁsappanti. Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti, yaṁ karoti tena upapajjati. Upapannamenaṁ phassā phusanti. Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Someone whose destiny and rebirth is crooked is reborn in one of two places, I say: in an absolutely painful hell, or among the species of creepy animals. And what are the species of creepy animals? Snakes, scorpions, centipedes, mongooses, cats, mice, owls, or whatever other species of animal that creep away when they see humans. This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds. Sentient beings are the owners of their deeds and heir to their deeds. Deeds are their womb, their relative, and their refuge. They shall be the heir of whatever deeds they do, whether good or bad.
“Này các Tỳ khưu, đối với người có sanh thú cong vạy, có sự tái sanh cong vạy, Ta tuyên bố một trong hai sanh thú sau đây: hoặc là các địa ngục hoàn toàn đau khổ, hoặc là loài bàng sanh có bản chất luân chuyển. Và này các Tỳ khưu, thế nào là loài bàng sanh có bản chất luân chuyển? Rắn, bọ cạp, rết, chồn, mèo, chuột, cú; hoặc bất cứ chúng sanh nào khác thuộc loài bàng sanh, khi thấy con người liền luân chuyển lẩn tránh. Này các Tỳ khưu, như vậy, do cái đã hiện hữu mà sự tái sanh của chúng sanh hiện hữu xảy ra. Do nghiệp đã làm, chúng sanh được tái sanh. Khi đã được tái sanh, các xúc chạm vào nó. Này các Tỳ khưu, như vậy Ta nói: ‘Chúng sanh là người thừa tự của nghiệp’. Này các Tỳ khưu, chúng sanh có nghiệp là sở hữu của mình, là người thừa tự của nghiệp, có nghiệp là thai tạng, có nghiệp là quyến thuộc, có nghiệp là nơi nương tựa. Bất cứ nghiệp nào chúng sanh đã làm, thiện hay ác, họ sẽ là người thừa tự của nghiệp ấy.”
Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. So na saṁsappati kāyena, na saṁsappati vācāya, na saṁsappati manasā. Tassa uju kāyakammaṁ hoti, uju vacīkammaṁ, uju manokammaṁ, uju gati, ujupapatti.
Take a certain someone who gives up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. They’re not creepy in body, speech, and mind. Doing virtuous deeds by way of body, speech, and mind, their destiny and rebirth is virtuous.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, đã bỏ kiếm, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống vì lợi ích và thương xót tất cả chúng sanh. Vị ấy không luân chuyển qua thân, không luân chuyển qua lời nói, không luân chuyển qua ý. Thân nghiệp của vị ấy ngay thẳng, khẩu nghiệp ngay thẳng, ý nghiệp ngay thẳng, sanh thú ngay thẳng, sự tái sanh ngay thẳng.”
Ujugatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, ujupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—ye vā ekantasukhā saggā yāni vā pana tāni uccākulāni khattiyamahāsālakulāni vā brāhmaṇamahāsālakulāni vā gahapatimahāsālakulāni vā aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni. Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti. Yaṁ karoti tena upapajjati. Upapannamenaṁ phassā phusanti. Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Someone whose destiny and rebirth is virtuous is reborn in one of two places, I say: in a heaven of absolute happiness, or in an eminent well-to-do family of aristocrats, brahmins, or householders—rich, affluent, and wealthy, with lots of gold and silver, lots of property and assets, and lots of money and grain. This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
“Này các Tỳ khưu, đối với người có sanh thú ngay thẳng, có sự tái sanh ngay thẳng, Ta tuyên bố một trong hai sanh thú sau đây: hoặc là các cõi trời hoàn toàn an lạc, hoặc là các gia đình cao quý — hoặc gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hoặc gia đình Bà-la-môn đại phú, hoặc gia đình gia chủ đại phú — giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều vật dụng, nhiều tiền của, nhiều lúa gạo. Này các Tỳ khưu, như vậy, do cái đã hiện hữu mà sự tái sanh của chúng sanh hiện hữu xảy ra. Do nghiệp đã làm, chúng sanh được tái sanh. Khi đã được tái sanh, các xúc chạm vào nó. Này các Tỳ khưu, như vậy Ta nói: ‘Chúng sanh là người thừa tự của nghiệp’.”
Idha pana, bhikkhave, ekacco adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti …pe… kāmesumicchācārā paṭivirato hoti … musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti … pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti … pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti … samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti … anabhijjhālu hoti … abyāpannacitto hoti … sammādiṭṭhiko hoti aviparītadassano: ‘atthi dinnaṁ …pe… ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. So na saṁsappati kāyena, na saṁsappati vācāya, na saṁsappati manasā. Tassa uju kāyakammaṁ hoti, uju vacīkammaṁ, uju manokammaṁ, uju gati, ujupapatti.
Take someone else who gives up stealing … sexual misconduct … lying … backbiting … harsh speech … talking nonsense … They’re content … kind hearted … they have right view … They’re not creepy in body, speech, and mind. Doing virtuous deeds by way of body, speech, and mind, their destiny and rebirth is virtuous.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có người từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho... tránh xa tà hạnh trong các dục... từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối... từ bỏ nói lời đâm thọc, tránh xa nói lời đâm thọc... từ bỏ nói lời thô ác, tránh xa nói lời thô ác... từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm... không tham lam... có tâm không sân hận... có chánh kiến, có tri kiến không sai lạc: ‘Có quả của bố thí... có các vị Sa-môn, Bà-la-môn... tự mình với thắng trí chứng ngộ và tuyên thuyết đời này và đời sau’. Vị ấy không luân chuyển qua thân, không luân chuyển qua lời nói, không luân chuyển qua ý. Thân nghiệp của vị ấy ngay thẳng, khẩu nghiệp ngay thẳng, ý nghiệp ngay thẳng, sanh thú ngay thẳng, sự tái sanh ngay thẳng.”
Ujugatikassa kho pana ahaṁ, bhikkhave, ujupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—ye vā ekantasukhā saggā yāni vā pana tāni uccākulāni khattiyamahāsālakulāni vā brāhmaṇamahāsālakulāni vā gahapatimahāsālakulāni vā aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni. Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti. Yaṁ karoti tena upapajjati. Upapannamenaṁ phassā phusanti. Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Someone whose destiny and rebirth is virtuous is reborn in one of two places, I say: in a heaven of absolute happiness, or in an eminent well-to-do family of aristocrats, brahmins, or householders—rich, affluent, and wealthy, with lots of gold and silver, lots of property and assets, and lots of money and grain. This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
“Này các Tỳ khưu, đối với người có sanh thú ngay thẳng, có sự tái sanh ngay thẳng, Ta tuyên bố một trong hai sanh thú sau đây: hoặc là các cõi trời hoàn toàn an lạc, hoặc là các gia đình cao quý — hoặc gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hoặc gia đình Bà-la-môn đại phú, hoặc gia đình gia chủ đại phú — giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều vật dụng, nhiều tiền của, nhiều lúa gạo. Này các Tỳ khưu, như vậy, do cái đã hiện hữu mà sự tái sanh của chúng sanh hiện hữu xảy ra. Do nghiệp đã làm, chúng sanh được tái sanh. Khi đã được tái sanh, các xúc chạm vào nó. Này các Tỳ khưu, như vậy Ta nói: ‘Chúng sanh là người thừa tự của nghiệp’.”
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti. Ayaṁ kho so, bhikkhave, saṁsappanīyapariyāyo dhammapariyāyo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Sentient beings are the owners of their deeds and heir to their deeds. Deeds are their womb, their relative, and their refuge. They shall be the heir of whatever deeds they do, whether good or bad. This is the exposition of the teaching on creepy creatures.”
Này các Tỳ khưu, chúng sanh có nghiệp là sở hữu, là người thừa tự của nghiệp, có nghiệp là thai tạng, có nghiệp là quyến thuộc, có nghiệp là nơi nương tựa. Bất cứ nghiệp nào mà họ thực hiện – thiện hay ác – họ sẽ là người thừa tự của nghiệp ấy. Này các Tỳ khưu, đây chính là pháp môn, là pháp môn luân chuyển. Hết bài kinh thứ sáu.