- Aṅguttara Nikāya 10.117
- 12. Paccorohaṇivagga
Bản dịch
AN 10.117 — Sangàrava
Saṅgāravasutta
TTC 1Bấy giờ có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia?
TTC 2Tà kiến, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia. Tà tư duy là bờ bên này, chánh tư duy là bờ bên kia. Tà ngữ… chánh ngữ… Tà nghiệp… chánh nghiệp… Tà mạng… chánh mạng… Tà tinh tấn… chánh tinh tấn… Tà niệm… chánh niệm… Tà định… chánh định… Tà trí… chánh trí… Tà giải thoát, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia.
Này Bà-la-môn, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia:
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui Niết-bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cấu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc, sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.117
- 12. The Ceremony of Descent
With Saṅgārava
5. Kinh Saṅgārava
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, orimaṁ tīraṁ, kiṁ pārimaṁ tīran”ti?
“Micchādiṭṭhi kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, sammādiṭṭhi pārimaṁ tīraṁ; micchāsaṅkappo orimaṁ tīraṁ, sammāsaṅkappo pārimaṁ tīraṁ; micchāvācā orimaṁ tīraṁ, sammāvācā pārimaṁ tīraṁ; micchākammanto orimaṁ tīraṁ, sammākammanto pārimaṁ tīraṁ; micchāājīvo orimaṁ tīraṁ, sammāājīvo pārimaṁ tīraṁ; micchāvāyāmo orimaṁ tīraṁ, sammāvāyāmo pārimaṁ tīraṁ; micchāsati orimaṁ tīraṁ, sammāsati pārimaṁ tīraṁ; micchāsamādhi orimaṁ tīraṁ, sammāsamādhi pārimaṁ tīraṁ; micchāñāṇaṁ orimaṁ tīraṁ, sammāñāṇaṁ pārimaṁ tīraṁ; micchāvimutti orimaṁ tīraṁ, sammāvimutti pārimaṁ tīranti. Idaṁ kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, idaṁ pārimaṁ tīranti.
Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, what is the near shore? And what is the far shore?”
“Wrong view is the near shore, brahmin, and right view is the far shore. Wrong purpose is the near shore, and right purpose is the far shore. Wrong speech is the near shore, and right speech is the far shore. Wrong action is the near shore, and right action is the far shore. Wrong livelihood is the near shore, and right livelihood is the far shore. Wrong effort is the near shore, and right effort is the far shore. Wrong mindfulness is the near shore, and right mindfulness is the far shore. Wrong immersion is the near shore, and right immersion is the far shore. Wrong knowledge is the near shore, and right knowledge is the far shore. Wrong freedom is the near shore, and right freedom is the far shore. This is the near shore, and this is the far shore.
117. Bấy giờ, Bà la môn Saṅgārava đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng và đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà la môn Saṅgārava bạch với Thế Tôn điều này: “Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này, thế nào là bờ bên kia?” “Này Bà la môn, tà kiến là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia; tà tư duy là bờ bên này, chánh tư duy là bờ bên kia; tà ngữ là bờ bên này, chánh ngữ là bờ bên kia; tà nghiệp là bờ bên này, chánh nghiệp là bờ bên kia; tà mạng là bờ bên này, chánh mạng là bờ bên kia; tà tinh tấn là bờ bên này, chánh tinh tấn là bờ bên kia; tà niệm là bờ bên này, chánh niệm là bờ bên kia; tà định là bờ bên này, chánh định là bờ bên kia; tà trí là bờ bên này, chánh trí là bờ bên kia; tà giải thoát là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia. Này Bà la môn, đây chính là bờ bên này, đây là bờ bên kia.”
Appakā te manussesu, ye janā pāragāmino; Athāyaṁ itarā pajā, tīramevānudhāvati.
Few are those among humans who cross to the far shore. The rest just run around on the near shore.
“Trong loài người, số người đến bờ kia thì ít. Còn lại, chúng sanh khác chỉ chạy loanh quanh trên bờ này.”
Ye ca kho sammadakkhāte, dhamme dhammānuvattino; Te janā pāramessanti, maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
When the teaching is well explained, the people who practice accordingly will cross over Death’s dominion so hard to pass.
“Còn những ai trong giáo pháp được khéo thuyết giảng, sống thuận theo pháp, những người ấy sẽ vượt qua cảnh giới của tử thần rất khó vượt, để đến được bờ bên kia.”
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya, Sukkaṁ bhāvetha paṇḍito; Okā anokamāgamma, Viveke yattha dūramaṁ.
Rid of dark qualities, an astute person would develop the bright. Having left home for homelessness in seclusion, where joy is hard,
“Bậc trí nên từ bỏ pháp đen, tu tập pháp trắng. Từ nhà đến nơi không nhà, trong cảnh viễn ly khó mà hoan hỷ.”
Tatrābhiratimiccheyya, hitvā kāme akiñcano; Pariyodapeyya attānaṁ, cittaklesehi paṇḍito.
they’d long for satisfaction there. Forsaking sensual pleasures, owning nothing, an astute person would cleanse themselves of mental corruptions.
“Nơi ấy, nên tìm cầu sự hoan hỷ, từ bỏ các dục, không còn vướng bận. Bậc trí nên gột rửa tự thân khỏi những phiền não của tâm.”
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu, sammā cittaṁ subhāvitaṁ; Ādānapaṭinissagge, anupādāya ye ratā; Khīṇāsavā jutimanto, te loke parinibbutā”ti.
Pañcamaṁ.
And those whose minds are rightly developed in the awakening factors; who, letting go of attachments, delight in not grasping—with defilements ended, brilliant, they are quenched in this world.”
“Những vị có tâm được khéo tu tập trong các giác chi, những vị hoan hỷ trong sự từ bỏ chấp thủ, không còn chấp thủ, các vị lậu tận, có hào quang, các vị ấy đã tịch diệt Niết bàn ở trong đời.” Hết kinh thứ năm.